Cách điều trị bệnh thủy đậu ở trẻ em nhanh, không để lại sẹo

Hướng dẫn điều trị bệnh thủy đậu ở trẻ em nhanh, không để lại sẹo cho trẻ bệnh nằm nghỉ trong 1 phòng thoáng mát, sạch sẽ, ăn các chất dễ tiêu, trẻ nhỏ phải cho mang bao tay, xoa bột tan (talc) vô khuẩn hoặc phấn rôm khắp người..

[adinserter block=”1″]

Bệnh thủy đậu là gì?

Thủy đậu là căn bệnh do virus gây ra và có nguy cơ lây nhiễm rất nhanh từ người này sang người khác. Căn bệnh này tuy không nguy hiểm nhưng nó sẽ gây ra nhiều biến chứng phức tạp như nhiễm khuẩn ngoài da, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và cấu tạo hình thể thai nhi nếu thai phụ mắc bệnh thủy đậu trong 3 tháng đầu của chu kỳ,… chính vì vậy việc nhận biết nguyên nhân, triệu chứng bệnh thủy đậu là rất cần thiết, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát hiện bệnh sớm và có cách chăm sóc điều trị phù hợp.

Nguyên nhân gây bệnh thủy đậu

  • Thuỷ đậu là một bệnh ngoài da do virus varicella-zoster gây ra.
  • Bệnh thủy đậu có thể gặp ở tất cả mọi người nhưng thường là ở trẻ từ 5-9 tuổi.
  • Thủy đậu bị nặng nhất xảy ra ở người lớn tuổi và trẻ nhỏ dưới 5 tuổi.
  • Bệnh xảy ra nhiều nhất ở mùa đông xuân.
  • Bệnh lây lan qua việc tiếp xúc với chất dịch của người bệnh qua da, quần áo, hay lây lan bệnh qua việc tiếp xúc với nước bọt của người bệnh qua đường không khí khi giao tiếp nói chuyện với người bệnh thủy đậu

Cách điều trị bệnh thủy đậu ở trẻ em nhanh, không để lại sẹo

Triệu chứng của bệnh thủy đậu

  • Kể từ khi bạn bị nhiễm virus gây bệnh thủy đậu do tiếp xúc với người bị thủy đậu, sống chung môi trường với người bị thủy đậu mà hệ miễn dịch bị tổn thương cho đến khi bệnh bắt đầu có triệu chứng biểu hiện trên cơ thể trung bình là 14 ngày, có người bị sớm hơn (10-12 ngày) và có người trên 20 ngày mới bị phát bệnh.
  • Khi bệnh thủy đậu mới phát sinh, trên cơ thể bạn sẽ nổi những mụn nước có màu hồng nhạt ở các bộ phận như mặt, chân, tay, và nhanh chóng lan ra trên toàn thân trong vòng 24 giờ. Người bệnh có thể bị từ vài nốt mụn đến hơn 500 mụn nước trên cơ thể tùy theo bị nhiễm bệnh nặng nhẹ và cơ địa, sức đề kháng từng người khác nhau.
  • Mụn nước do bệnh thủy đậu gây nên có kích thước nhỏ, bên trong có dịch nước, tuy nhiên nếu bạn bị nhiễm nặng thì kích thước của mụn nước có thể lớn hơn thậm chí có màu đục do chứa mủ bên trong.
  • Nếu là trẻ em bị nhiễm bệnh, bé có thể kèm theo triệu chứng sốt nhẹ từ 37-38oC, biếng ăn, cơ thể bé khó chịu nên hay “chướng tính”, hay khóc, ho ít, nước mũi loãng trong.
  • Nếu là người lớn bị nhiễm bệnh, thường kèm theo triệu chứng sốt cao có thể trên 40oC, đau đầu, đau họng, các cơ đau nhức, toàn thân mệt mỏi, rã rời, buồn nôn và nôn nhiều.
  • Ở những vùng bị nổi mụn nước bạn có cảm giác nóng ran, ngứa rất nhiều, nếu bạn càng gãi, mụn nước bị vỡ ra thì bệnh càng nặng và nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng càng nghiêm trọng hơn.

Trên đây là các nguyên nhân, triệu chứng bệnh thủy đậu mà mọi người nên biết, một căn bệnh không khó chữa trị nhưng lại gây nhiều ảnh hưởng khó chịu cho mọi người.

Cách điều trị bệnh thủy đậu hiệu quả không để lại sẹo

Hiện chưa có thuốc đặc trị bệnh mà cách điều trị bệnh thủy đậu tùy thuộc vào sự phát hiện bệnh sớm trong 24 giờ đầu. Cần cho người bệnh đi khám bệnh ngay. Căn cứ vào tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ cho điều trị nội trú hoặc điều trị tại nhà.
iều quan trọng nhất trong điều trị, chăm sóc bệnh nhân thủy đậu là làm sạch da và vệ sinh thân thể:

– Cho người bệnh nằm nghỉ trong 1 phòng thoáng mát, sạch sẽ, ăn các chất dễ tiêu.  Chú ý cắt ngắn móng tay và giữ sạch tay.

_ Trẻ nhỏ phải cho mang bao tay, xoa bột tan (talc) vô khuẩn hoặc phấn rôm khắp người để trẻ đỡ ngứa.

– Tắm rửa bằng các dung dịch sát khuẩn

– Tránh cọ xát làm các bóng nước bị vỡ.

Điều trị triệu chứng:

– Tại chỗ nốt đậu dập vỡ nên chấm dung dịch xanh metylen.

– Chống ngứa để bệnh nhân đỡ cào gãi bằng các thuốc kháng histamin như: chlopheniramin, loratadine…

– Khi bệnh nhân đau và sốt cao, có thể cho dùng acetaminophen. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).

– Mỗi ngày 2-3 lần nhỏ mắt, mũi thuốc sát khuẩn như chloramphenicol 0,4% hoặc acgyrol 1%.

– Khi nốt phỏng vỡ, chỉ nên bôi thuốc xanh metilen; không được bôi mỡ tetraxiclin, mỡ penixilin hay thuốc đỏ.

Điều trị bệnh thủy đậu bằng thuốc kháng virus

– Trong vòng 24 giờ đầu khi xuất hiện nốt đậu dùng kháng sinh chống virut loại acyclovir để giúp rút ngắn thời gian và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Liều lượng phụ thuộc lứa tuổi hoặc cân nặng (đối với trẻ nhỏ).

– Trường hợp nặng hơn hoặc có biến chứng như viêm màng não, trẻ suy giảm miễn dịch, có thể dùng acyclovir đường tĩnh mạch.

– Tuân thủ chỉ định dùng thuốc của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc hoặc nghe lời mách bảo mà dùng thuốc sai lầm, dẫn đến thủy đậu bội nhiễm nặng.

Giai đoạn vừa mới lành bệnh, cần phải tuyệt đối chống nắng và tránh cào gãi gây trầy xước. Bổ sung đầy đủ các vitamin và yếu tố vi lượng cho da thông qua chế độ ăn hoặc thuốc uống. Giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ và nghỉ ngơi nhiều.

Cách phòng bênh thủy đậu hiệu quả

Cách phòng bệnh thủy đậu tốt nhất là tiêm vaccine và tiêm một liều duy nhất 0,5ml cho trẻ từ 1 – 12 tuổi. Đối tượng từ 13 tuổi trở lên tiêm 2 liều, cách nhau từ 6 – 10 tuần. Khi tiêm chủng cần chú ý những điều sau:

– Việc chủng ngừa thủy đậu không chỉ cần tiến hành với trẻ em, là đối tượng chính của bệnh này, mà còn ở cả người lớn. Những người lớn khi mắc bệnh cũng gặp nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí còn nặng hơn cả trẻ nhỏ nên chích ngừa là hoàn toàn cần thiết. Phụ nữ trước khi có ý định mang thai từ 2-3 tháng cần đi tiêm vắc xin để bảo vệ sức khỏe cả mẹ và bé.

– Không tiêm vắc xin thủy đậu khi đang sốt hoặc bị bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, người mẫn cảm với các thành phần của vắc xin, người bị thiếu hụt miễn dịch bẩm sinh hoặc mắc phải, phụ nữ đang mang thai.

Trong khi dịch bệnh có mặt ở khắp nơi thì cách ly với nguồn bệnh là một biện pháp an toàn giúp ngăn chặn lây lan. Không nên đưa trẻ đến những nơi có nguồn bệnh hoặc  nguy cơ lây nhiễm cao như bệnh viện. Không nên đến những chỗ đông người như bến xe, bến tàu. Trong trường hợp bắt buộc phải đến những nơi kể trên cần đeo khẩu trang y tế, vệ sinh sạch sẽ bằng xà phòng diệt khuẩn ngay sau đó.

Ngoài ra, bố mẹ cần đảm bảo cho trẻ ăn uống đầy đủ dưỡng chất, nâng cao sức đề kháng, vệ sinh cơ thể, giữ tay sạch sẽ, tránh nguồn lây bệnh.

Bố mẹ cũng có thể tăng cường hệ miễn dịch cho bé bằng cách cho bé sử dụng các loại thực phẩm chức năng giúp nâng cao sức đề kháng và hệ thống miễn dịch. Ưu điểm của những loại thực phẩm chức năng này là bổ sung đầy đủ các loại vitamin và khoáng chất thiết yếu mà thức ăn hàng ngày chưa cung cấp đủ. Qua đó giúp hình thành và củng cố hệ thống miễn dịch khỏe mạnh, chống chọi lại với các loại dịch bệnh lây lan trong thời điểm nắng nóng, giao mùa.

Bạn đang xem: http://baodinhduong.net/cach-dieu-tri-benh-thuy-dau-o-tre-em-nhanh-khong-de-lai-seo/

từ khóa:

  • cach tri benh thuy dau o tre em nhanh
  • Huong dan chua benh thuy dau
  • Cach phong ngua benh thuy dau

 

Bệnh viêm mũi họng ở trẻ sơ sinh: Nguyên nhân và điều trị

Viêm mũi họng ở trẻ có những dấu hiệu như sốt và kèm theo bứt rứt, quấy khóc, kém ăn đôi khi còn bị nôn mửa, tiêu chảy kéo dài 2-3 ngày, nếu con chưa đủ 6 tháng tuổi thì mẹ nên lưu ý về thuốc trị sổ mũi cho trẻ sơ sinh..

  • Bệnh viêm da mủ ở trẻ sơ sinh & cách điều trị
  • Bé bao nhiêu tháng thì ăn được váng sữa là tốt nhất?

Nguyên nhân gây viêm mũi họng ở trẻ sơ sinh

Bệnh viêm mũi họng ở trẻ em có đặc điểm là hay tái phát, những lần tái phát có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm nhất là ở trẻ sơ sinh và trẻ còn bú mẹ.

  • Trên 80% trẻ mắc bệnh chủ yếu là do nhiễm trùng một số loại virus, vi khuẩn như Adeno virus, Rhino virus, liên cầu khuẩn.
  • Các yếu tố thuận lợi làm bệnh phát triển như chuyển mùa, mùa đông xuân, thời tiết lạnh ẩm, điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo, khói bụi, nhà không kín bị gió lùa sẽ khiến virus dễ dàng phát triển, xâm nhập khiến trẻ dễ bị mắc bệnh hơn.Với trẻ còi xương, suy dinh dưỡng, trẻ đẻ non, cơ địa dị ứng hoặc đang mắc bệnh mạn tính hoặc bệnh làm s
  • Suy giảm hệ thống miễn dịch, như sởi, cúm… cũng là những yếu tố thuận lợi cho viêm mũi họng tái phát.
  • Chu kỳ phát triển bệnh ở trẻ dưới 3 tuổi có thể viêm mũi 4 – 6 lần trong một năm, tần số có thể tăng lên trong thời kỳ bé đi nhà trẻ, mẫu giáo, sau đó giảm dần.
  • Chúng ta không nên quá lo lắng khi thấy con đi nhà trẻ vài ngày lại phải nghỉ vài ngày vì ho, sổ mũi. Tuy nhiên nếu tái phát quá nhiều có thể dẫn đến các biến chứng như viêm màng não, viêm tai…
  • Việc phòng tránh viêm mũi họng tái diễn cho trẻ có thể thực hiện nếu người chăm sóc trẻ được tư vấn đúng các nguyên nhân và yếu tố thuận lợi dẫn đến việc trẻ bị bệnh để họ biết và làm theo hướng dẫn.

Dấu hiệu viêm mũi ở trẻ em

Khi thấy trẻ có những dấu hiệu như sốt và kèm theo bứt rứt, quấy khóc, kém ăn đôi khi còn bị nôn mửa, tiêu chảy kéo dài 2-3 ngày. Trẻ bị ngạt mũi kèm theo chảy nước mũi trong hoặc nhầy mủ, một số trẻ bị ho thì đây có thể là dấu hiệu viêm mũi ở trẻ em.

Bệnh viêm mũi họng ở trẻ sơ sinh: Nguyên nhân và điều trị

Mẹ nên áp dụng các bài thuốc trị sổ mũi trẻ em có nguyên liệu thiên nhiên trước. Nếu con chưa đủ 6 tháng tuổi thì mẹ nên lưu ý về thuốc trị sổ mũi cho trẻ sơ sinh. Khi các triệu chứng trên kéo dài trên 7 ngày, mẹ cần đến gặp bác sĩ để được tư vấn. Vì lúc đó tình trạng bệnh của trẻ đã nghiêm trọng hơn và cần phải dùng kháng sinh để điều trị.

Viêm mũi thường xảy ra ở trẻ nhỏ khoảng độ tuổi từ 6 tháng tuổi tới 7-8 tháng tuổi. Nguyên nhân là do hệ miễn dịch còn kém, khi trẻ hít không khí từ ngoài vào đến phổi, các tác nhân gây bệnh dễ đi vào theo. Ở trẻ nhỏ, viêm mũi chủ yếu là do viêm niêm mạc của hốc mũi và vùng họng mũi. Viêm mũi gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm phổi, viêm tai, viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp…

Các biến chứng có thể gây nguy hiểm

Trẻ sốt cao có thể dẫn đến co giật, đặc biệt thường gặp nhất là viêm tai giữa, trẻ sốt cao, trẻ lớn sẽ kêu đau trong tai, nghe kém, trẻ nhỏ hay dụi vào tai, nặng hơn là chảy mủ tai, viêm xoang hàm cấp ở trẻ lớn và viêm thanh quản cấp (tiếng khóc bị khàn, trẻ khó thở), viêm phế quản, viêm phổi (trẻ thở mệt, khò khè).

Hướng dẫn chữa trị bệnh viêm mũi họng ở trẻ em

Viêm sổ mũi là bệnh hay gặp ở trẻ, nhất là trẻ dưới 6 tuổi (chiếm 75 – 80% số trẻ độ tuổi này), đặc biệt khi có điều kiện thuận lợi như thay đổi thời tiết, trời đang nóng chuyển sang lạnh đột ngột…

Viêm sổ mũi được chia làm hai loại chính là viêm sổ mũi xuất tiết và viêm sổ mũi do vi khuẩn (viêm mũi mủ). Viêm sổ mũi có thể biểu hiện cấp hay mạn tính. Việc điều trị sổ mũi tùy thuộc vào thể viêm sổ mũi mắc phải của trẻ cũng như giai đoạn bệnh.

Trị trẻ bị sổ mũi cấp xuất tiết

Nguyên nhân chính là do virut. Viêm sổ mũi cấp cũng có thể gây thành dịch. Biểu hiện bằng sốt, hắt hơi, chảy nước mũi trong, ngạt tắc mũi nên trẻ nhỏ khó bú. Những trường hợp này được xử trí theo phác đồ sau:

Toàn thân:

Sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ nếu sốt trên 38,5oC (nhóm chứa paracetamol hiện vẫn được coi là nhóm hạ sốt an toàn nhất).

Thuốc chống xuất tiết: Do virut được coi là một kháng nguyên tác động lên mũi gây viêm nên người ta dùng kháng histamin H1 (có tác dụng phong bế các thụ thể H1 ở ngoại biên, ức chế phóng thích histamin từ dưỡng bào), với các thế hệ khác nhau như chlorpheniramin maleat, loratidin, fexofenadin hydoclorid, desloratidin… Thuốc kháng histamin thường được dùng kéo dài 2 tuần mỗi đợt điều trị.

Thuốc tăng cường chức năng miễn dịch hiện rất hay được sử dụng đi kèm là thuốc chứa thymomodulin, làm tăng cường miễn dịch do kích thích sự phát triển của tế bào Lympho T và Lympho B, đồng thời kích thích đại thực bào tấn công tác nhân gây bệnh, tăng hoạt động tổng hợp kháng thể từ tế bào B và hoạt hóa bạch cầu T làm tan rã các tác nhân gây bệnh ký sinh trong tế bào của cơ thể.

Tại chỗ:

Thuốc chống xung huyết, giảm phù nề niêm mạc mũi: Thuốc thông dụng hiện nay là xylomethazolin 0,05%, thuốc dùng được cho cả trẻ sơ sinh. Ngoài ra còn có adrénaline 0,01%, ephedrine 0,1-0,3%…

Thuốc làm săn khô niêm mạc mũi là nhóm muối bạc: argyrol. Thuốc này dễ bị phân huỷ bởi ánh sáng nên thuốc được bọc bởi một lớp giấy than chống ánh sáng và sử dụng mỗi lọ chỉ dưới 10 ngày.

Viêm sổ mũi mạn tính

Thường là viêm mũi mủ hoặc viêm mũi dị ứng, viêm mũi mạn tính thường đi kèm với viêm xoang. Thuốc sử dụng với những viêm mũi mạn tính thường là:

Toàn thân:

Kháng sinh: Có thể nuôi cấy dịch mũi làm kháng sinh đồ được coi là biện pháp tối ưu khi điều trị. Kháng sinh thường dùng trong viêm mũi mạn tính phải có phổ rộng để có thể diệt được cả vi khuẩn gram âm, gram dương và vi khuẩn kỵ khí nên hay dùng nhóm cepholosporin thế hệ III.

Thuốc chống dị ứng: Nên dùng loại có chứa micocrystalline, cellulose… chỉ định cho trẻ trên 6 tháng.

Tại chỗ:

Thuốc chống viêm có corticoid dạng nhỏ như polydexa, collydexa.. dùng dưới 7 ngày. Người ta cũng pha chế thuốc chữa mũi dạng phun sương có thể dùng kéo dài 2 năm. Tuy nhiên, phải theo dõi chặt chẽ và hiệu chỉnh liều theo sự tiến triển hoặc suy thoái của bệnh. Thuốc coricoid tại chỗ tuy chỉ có khoảng 2% hấp thu vào máu nhưng nếu không được điều trị đúng phương pháp cũng sẽ gây một số biến chứng, nhất là ở trẻ em như không kích thích vỏ thượng thận tiết hormon làm teo vỏ thượng thận, gây hội chứng biến dưỡng do tăng giữ muối, nước, ứ đọng mỡ ở một số bộ phận như mặt, tăng đường huyết… tình trạng quen thuốc do điều trị dở dang.

Thuốc corticoid dùng tại mũi với tính chất chống viêm tại chỗ ở các liều không có tác dụng toàn thân. Trẻ em từ 3-11 tuổi, sử dụng điều trị dự phòng bằng nasonex được khuyên dùng 2 – 4 tuần trước thời gian dự kiến sẽ xuất hiện viêm mũi.

Không được dùng khi có các tổn thương khu trú ở mũi vì tác dụng ức chế sự lành vết thương của corticoid. Đối với bệnh nhân vừa qua phẫu thuật mũi hay chấn thương mũi không được dùng corticoid đường mũi cho tới khi lành. Khi dùng kéo dài phải được kiểm tra định kỳ về các thay đổi có thể ở niêm mạc mũi. Nếu xuất hiện nhiễm nấm khu trú ở niêm mạc mũi họng cần ngưng điều trị. Kích ứng họng dai dẳng cũng là một chỉ định để ngưng thuốc.

Viêm mũi tuy không nguy hiểm nhưng lại rất hay gây biến chứng làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của trẻ như giảm thị lực, viêm họng, ho kéo dài, viêm thanh – khí – phế quản… Chính vì thế cần chẩn đoán và điều trị viêm mũi sớm và triệt để. Virut là một trong những nguyên nhân gây viêm mũi

Phòng bệnh viêm mũi ở trẻ em như thế nào?

  • Bệnh viêm mũi ở trẻ em thường xuất hiện lúc thời tiết giao mùa, nhiệt độ thay đổi nóng – lạnh đột ngột. Để phòng bệnh viêm mũi ở trẻ em, các mẹ cần được đảm bảo giữ ấm, tránh gió lùa trực tiếp vào cổ họng
  • Vệ sinh thường xuyên nhà cửa, đồ chơi, nơi bé ngủ. Dạy cho trẻ không được ngoáy mũi, vì như vậy dễ gây tổn thương niêm mạc mũi
  • Vệ sinh mũi thường xuyên để loại bỏ gỉ mũi, chất nhầy. Khi vệ sinh rửa mũi, các mẹ nên dùng nước ấm hoặc nước muối sinh lý. Thường xuyên vệ sinh mũi sẽ góp phần tránh các bệnh viêm nhiễm hô hấp như viêm mũi, nghẹt mũi, hắt xì, viêm xoang….
  • Khi trẻ bị viêm mũi với các triệu chứng kéo dài (trên 7 ngày) kèm theo các triệu chứng nặng hơn như đau tai, khàn tiếng, khó thở, phải kịp thời đưa trẻ tới các cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị.

Bệnh viêm mũi ở trẻ em không nguy hiểm nếu các mẹ chủ động phòng tránh cho trẻ bằng các biện pháp vệ sinh. Hạn chế đưa trẻ vào những nơi có không khí ô nhiễm, khói thuốc lá. Tránh để trẻ thay đổi thân nhiệt đột ngột. Nếu các triệu chứng của viêm mũi kéo dài trên 7 ngày có kèm theo sốt cao, phụ huynh phải kịp thời đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được khám và điều trị.

theo suckhoedoisong

tu khoa

  • benh viem mui hong o tre so sinh
  • nguyen nhan gay ra benh viem mui o tre so sinh
  • cach tri viem mui hong o tre

Những bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi do trẻ chưa có một hệ thống miễn dịch tối ưu, nên dễ bị bệnh: nôn, ho và sốt, viêm tại, phát ban tã lót, tiêu chảy, táo bón..

  • Những bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh thiếu tháng
  • Chồng hơn vợ bao nhiêu tuổi là vừa để kết hôn?

8 cột mốc quan trọng của trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi

Ông bà ta thường nói: “3 tháng biết lẫy, 7 tháng biết bò, 9 tháng lò dò biết đi” – 3 quá trình phát triển thông thường của trẻ. Tuy nhiên, không phải đứa trẻ nào cũng tuân theo quy luật phát triển đó. Do đó nếu trẻ trì hoãn một giai đoạn phát triển quan trọng nào đó, cũng đừng lo lắng.

Tuy nhiên, hãy chú ý hơn tới những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời trẻ để chắc chắn rằng trẻ đang phát triển bình thường và đúng hướng. Sau đây là 8 mốc phát triển của trẻ mà cha mẹ cần đặc biệt lưu tâm:

1. Giao tiếp bằng mắt (6 – 8 tuần tuổi)

Khi được 6 – 8 tuần tuổi, trẻ sẽ bắt đầu giao tiếp bằng mắt. Đây là một trong những giai đoạn quan trọng đầu tiên của trẻ mà bạn cần lưu ý và là dấu ấn rất thú vị. Trẻ sẽ dùng ánh mắt để dõi theo bạn, nhìn những việc bạn làm và cuối cùng là tập trung vào bạn. Giao tiếp bằng mắt thể hiện rằng não của trẻ đang ghi nhận một gương mặt quen thuộc và nó cũng chỉ ra rằng sự phát triển về thần kinh và những kỹ năng giao tiếp của trẻ đang đi đúng hướng.

Hãy nhớ rằng một số trẻ sẽ có hoạt động giao tiếp bằng mắt muộn hơn so với bạn bè cùng lứa tuổi; vì thế bạn không nên quá lo lắng nếu trẻ chỉ bắt đầu giao tiếp bằng mắt khi được 3 tháng. Nếu đến thời điểm 3 tháng mà trẻ vẫn chưa có hoạt động giao tiếp bằng mắt bạn nên cho trẻ đi kiểm tra thị lực.

2. Mỉm cười thân thiện (8 tuần tuổi)

Lần đầu tiên khi trẻ cười với bạn, chắc hẳn đó là khoảnh khắc không thể nào quên đối với bạn. Nụ cười này không giống như nụ cười vu vơ của những em bé mới sinh khi nhìn lên trần nhà hoặc những đồ vật khác. Nụ cười thân thiện đầu tiên này là một trải nghiệm có tính tương hỗ: trẻ cười đáp lại nụ cười của bạn.

Những bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi

Nụ cười thân thiện đánh dấu mốc phát triển của bé khác lạ hơn, là một dấu hiệu cho thấy những phần khác nhau trong não của bé đang dần hoàn thiện, nó cũng chỉ ra sự phát triển về mặt tình cảm. Bạn có thể phân biệt được cảm giác buồn của trẻ khi không thấy mẹ ở bên hay niềm vui của trẻ khi nhìn thấy bạn.

Nếu bạn không nhận được một nụ cười thân thiện nào của trẻ cho đến khi 3 tháng, hãy đưa trẻ đến gặp bác sĩ bởi có thể liên quan đến vấn đề về thị lực.

3. Lẫy (2 – 3 tháng tuổi)

Khi trẻ được 2 hoặc 3 tháng, trẻ sẽ bắt đầu tập lẫy. Trong thời gian này trẻ có thể chuyển người sang tư thế nằm úp, sau đó bắt đầu di chuyển tiến lên phía trước và lùi về phía sau (tuy nhiên không đủ lực nên chỉ xoay quanh 1 vị trí). Khi bé đủ chắc, những chuyển động này khiến trẻ trườn được. Khi trẻ có thể lật mình và trườn, hãy để giữ trẻ khi thay tã để tránh tai nạn.

Nếu đến 6 tháng tuổi mà trẻ chưa lẫy được, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Tuy nhiên trẻ phát triển kỹ năng thể chất ở mức độ khác nhau nên có nhiều trẻ biết lẫy sớm hơn hoặc muộn hơn những trẻ khác.

4. Cầm đồ vật (từ 3 tháng tuổi trở lên)

  • Trẻ mới sinh có phản ứng cầm đồ vật bẩm sinh. Đó là lý do tại sao khi bạn chạm vào lòng bàn tay trẻ, trẻ sẽ dùng những ngón tay xinh xắn nắm lấy tay bạn. Khi trẻ được 3 tháng tuổi trẻ sẽ phát triển sự kết hợp tay – mắt; cố gắng với và cầm chặt những đồ vật mà mình muốn.
  • Bạn có thể nhận thấy rằng ở độ tuổi này trẻ làm rơi đồ trong tay và cố gắng nhặt chúng lên. Giai đoạn phát triển này giúp trẻ học về trọng lực. Với và cầm đồ vật cho thấy tính tò mò tự nhiên của trẻ.
  • Khi được 4 tháng tuổi, trẻ có thể nhặt những đồ vật lớn hơn. Trẻ sẽ không thể cầm được những đồ vật nhỏ nếu như không cải thiện sự linh hoạt của những ngón tay.
  • Ở giai đoạn này bạn có thể nhận thấy những giác quan của trẻ và giúp trẻ phát triển các giác quan bằng cách tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ thực hành kỹ năng đó.
  • Nếu trẻ có vẻ không thích thú với bất kỳ đồ chơi nào bạn đặt trước mặt trẻ khi được 8 tháng tuổi, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Những trẻ sinh non bước vào giai đoạn  này muộn hơn nhưng bác sĩ có thể đưa ra cho bác những lời khuyên về thời điểm thích hợp cho trường hợp của bạn.

5. Tồn tại độc lập (hơn 5 tháng tuổi)

Khi bước vào giai đoạn 6 tháng tuổi, trẻ bắt đầu hiểu khái niệm về việc giữ chặt và dấu đồ vật – nghĩa là trẻ hiểu được rằng những đồ vật đó sẽ vẫn ở đây, bên cạnh mình, thậm chí ngay cả khi chúng được dấu ở đâu đó. Đó là lý do vì sao trẻ ở lứa tuổi này thường thích trò chơi ú òa.

Trò chơi này kích thích trí nhớ và kỹ năng suy nghĩ trừu tượng của trẻ. Hãy bắt đầu chơi ú òa với trẻ ở độ tuổi này và bạn sẽ nhận được nhiều nụ cười của trẻ.

6. Ngồi (4 – 8 tháng tuổi)

Hầu hết những đứa trẻ bắt đầu học ngồi 1 mình trong khoảng 4 – 8 tháng tuổi. Đó là lúc mà trẻ lẫy thành thạo và giữ cho đầu mình ngẩng lên được. Đến 8 tháng tuổi, khoảng 90% trẻ có thể tự ngồi trong vài phút mà không cần ai giúp đỡ. Nếu đến 6 tháng tuổi mà trẻ không thể tự giữ đầu vững, bạn cần đến gặp bác sĩ để tham khảo.

7. Bò (6 – 10 tháng tuổi)

  • Khi trẻ biết ngồi thì chỉ một thời gian sau trẻ sẵn sàng khám phá phần còn lại của ngôi nhà. Trẻ bắt đầu tại vị trí đang ngồi, sau đó sẽ bắt đầu tập bò. Ngay khi nhận ra rằng mình có đủ sức để tự giúp bản thân mình, trẻ sẽ bò đi xung quanh. Không phải tất cả trẻ đều bò theo kiểu tay – đầu gối. 1 số trẻ thích di chuyển trên mông trong khi một số khác thích lăn.
  • Để khuyến khích trẻ tập bò, hãy cho trẻ không gian, sau đó đặt những đồ chơi hoặc đồ vật mà trẻ yêu thích ngoài tầm với của trẻ để trẻ bò đến lấy.
  • Khi trẻ bước vào giai đoạn này hãy bảo vệ an toàn cho trẻ bởi bạn không muốn trẻ đi vào những nơi không nên vào hay động vào những đồ không nên động như các thiết bị điện hay đồ vật sắc, nhọn.
  • Tất cả trẻ sẽ học được cách di chuyển trong môi trường của mình – cho dù bằng cách bò, lăn hay chạy. Nếu trẻ tỏ ra không hứng thú với việc di chuyển khi được 1 tuổi, hãy hỏi ý kiến bác sĩ về trường hợp này để có biện pháp thích hợp.

8. Đi (từ 10 tháng tuổi)

  • Khi trẻ bò vững, trẻ bắt đầu tìm kiếm những thứ để có thể vịn vào để đứng dậy như thành cũi, tay ghế… Để giúp trẻ an toàn trong giai đoạn này, bạn hãy di dời những đồ vật không chắc chắn hoặc dễ đổ khi trẻ động vào.
  • Ngay khi trẻ tự đứng thì những bước đi chập chững đầu đời sẽ xuất hiện. Một số trẻ bắt đầu lẫm chẫm đi sau 10 tháng tuổi; một số khác muộn hơn hoặc sớm hơn. Trẻ tập đi trong giai đoạn 9 – 12 tháng tuổi và có thể đi xung quanh nhà khi được 14 – 15 tháng tuổi.

Việc tập đi đòi hỏi nhiều thời gian; vì vậy nếu còn điều gì băn khoăn, hãy liên lạc ngay với bác sĩ.

6 bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi mẹ bầu nên biết

Năm đầu tiên trong cuộc sống, trẻ có thể bị một hoặc nhiều bệnh sau ghé thăm. Điều này là do trẻ chưa có một hệ thống miễn dịch tối ưu, nên dễ bị bệnh.

1/ Táo bón

  • Táo bón là một bệnh rất phổ biến ở trẻ và có thể ảnh hưởng đến khoảng 30% trẻ em trong độ tuổi dưới 1 tuổi. Ở tuổi này, thông thường bé không có một lịch trình bình thường cho việc đại tiện. Một số trẻ sơ sinh có thể đi đại tiện ngay sau mỗi bữa ăn, trong khi một số trẻ khác lại phải chờ đợi một ngày hoặc thậm chí lâu hơn mới đại tiện.
  • Lịch trình đại tiện này của trẻ phụ thuộc vào những gì trẻ ăn, cách thức hoạt động và mức độ tiêu hóa thức ăn của trẻ. Tuy nhiên cuối cùng cha mẹ sẽ có thể tìm thấy một lịch trình đại tiện riêng của trẻ sau khi theo dõi lịch ăn, ị của các bé.
  • Một dấu hiệu cho thấy trẻ bị táo bón là khi trẻ bắt đầu đi đại tiện với tần suất thấp hơn bình thường, đặc biệt là nếu trẻ đi đại tiện nhiều hơn 1-3 ngày/ lần và nó làm cho trẻ cảm thấy khó chịu. Bên cạnh đó, phân của trẻ có biểu hiện bị cứng hoặc khô cũng là một trong các triệu chứng của bệnh táo bón.

2/ Ho và cảm lạnh

  • Hầu như tất cả trẻ em đều bị bệnh này ghé thăm trong năm đầu tiên của mình. Ước tính có hàng trăm loại virus có thể gây ra cảm lạnh, và trẻ sơ sinh lại có hệ thống miễn dịch còn non nớt và đang phát triển nên càng dễ bị chúng xâm nhập gây bệnh.
  • Chưa kể đến việc, trẻ thường đưa tay hoặc các vật dụng khác vào miệng. Đây cũng là con đường thuận lợi khiến các vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể trẻ một cách nhanh chóng nhất.
  • Nói chung, trẻ sơ sinh thường bị ho và cảm lạnh trong mùa đông. Nếu như một người lớn trung bình bị cảm lạnh 2-4 lần/năm thì trẻ sơ sinh bị cảm lạnh trung bình từ 6-10 lần/năm.
  • Khi bị cảm lạnh, trẻ sẽ kèm theo triệu chứng chảy nước mũi, khó thở, hắt hơi, sốt nhẹ, hoặc ho. Nếu những triệu chứng này kéo dài hơn 10 ngày, bạn nên đưa bé đi thăm khám bác sĩ.

3/Phát ban do tã lót

  • Hầu như tất cả trẻ sơ sinh đang mặc tã hoặc đóng bỉm sẽ có nhiều nguy cơ bị hăm ở một giai đoạn nào đó. Cứ 4 em bé thì có một em bé bị hăm tã, bỉm trong tháng sơ sinh đầu tiên của mình.
  • Phát ban do tã lót hoặc bỉm có thể xảy ra nếu trẻ sử dụng tã, bỉm bẩn quá lâu hoặc một bé có một làn da nhạy cảm. Tình trạng này sẽ được biểu hiện ở trẻ với làn da đỏ và đau đớn.
  • Nguyên nhân khiến trẻ bị phát ban tã lót hoặc bỉm vì tã và bỉm không thể hấp thụ tất cả nước tiểu đọng lại của các em bé. Vì thế nước tiểu cùng vi khuẩn hoạt động trong một thời gian dài và có thể gây ra hăm tã.

4/ Tiêu chảy

Tiêu chảy ở trẻ có thể kéo dài nhiều ngày, và đôi khi đi kèm với tình trạng chuột rút đau đớn. Hầu hết các trường hợp tiêu chảy ở trẻ là do nhiễm trùng, vi khuẩn hoặc virus. Tiêu chảy do nhiễm virus có thể được đi kèm với chứng nôn mửa, đau bụng, sốt, ớn lạnh và đau đớn. Trong khi đó, tiêu chảy do nhiễm trùng vi khuẩn thường kèm theo đau bụng, ra máu, sốt và nôn. Tuy nhiên, tiêu chảy ở trẻ cũng có thể được gây ra bởi các phản ứng dị ứng với thức ăn hoặc thuốc kháng sinh.

5/ Nhiễm trùng tai

Trẻ nhỏ rất dễ bị nhiễm trùng tai. Bởi vì bất cứ điều gì cũng có thể phá vỡ chức năng của ống Eustachian như cảm lạnh hoặc dị ứng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Các triệu chứng của bệnh nhiễm trùng tai ở trẻ khá linh hoạt. Khi ấy trẻ sẽ có một thay đổi đột ngột trong hành vi  của mình và dễ khóc, cáu kỉnh. Trẻ sơ sinh thường kéo hoặc chà tai, sốt, nôn và đôi khi kèm theo tiêu chảy.

6/ Nôn trớ

Một số em bé sơ sinh thường bị nôn mửa thường xuyên nếu được ăn  một số thực phẩm mới hoặc nếu bị nhồi nhét ăn quá nhiều. Bên cạnh đó, trẻ bị nôn cũng có thể là do dị ứng, nuốt một cái gì đó độc hại, hay khóc và ho quá dai dẳng.

Nôn thường không gây hại cho sức khỏe của trẻ sơ sinh miễn là dấu hiệu này không kéo dài. Nếu trẻ bị nôn liên tục, nó có thể là một dấu hiệu của bệnh như viêm dạ dày ruột, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng tai hay một bệnh tật khác nghiêm trọng hơn.

Dinh dưỡng cho bé 1 tuổi đầy đủ và khoa học

Gồm 3 bữa ăn chính, xen kẽ là 3 – 4 cữ bú mẹ. Ngoài cháo và bột, có thể tập các thức ăn mềm như bún, phở, mì, nui. Trong mỗi chén cháo của bé cần có 4 nhóm thực phẩm sau:

  • 2-3 muỗng canh chất đạm băm nhuyễn (Thịt, cá, tôm, cua, trứng… Nếu mẹ nấu cháo nước xương, hãy cho bé ăn cả phần thịt vì chứa nhiều chất đạm).
  • 2 muỗng rau lá hoặc củ băm nhuyễn (rau muống, rau dền, bí đỏ, cà rốt..)
  • 1-2 muỗng dầu ăn
  • Thêm bột hoặc cháo cho đầy chén

Vẫn duy trì bú mẹ (ít nhất 3-4 lần trong ngày, các cữ bú nên vào lúc sáng sớm – chiều – tối và ban ngày là 3 bữa ăn). Cho bé ăn bột hoặc cháo đặc đủ 4 nhóm thức ăn 3 bữa trong ngày. Ăn thêm trái cây tươi.

Lưu ý khi chăm sóc bé 1 tuổi

Thời điểm này bé yêu đã nặng gấp 3 lần lúc sinh và đang trong thời điểm tập đứng rồi đi.

  • Bắt đầu có những hành vi như giành muỗng của mẹ, thò tay bốc thức ăn, cầm ly uống… Bạn chớ bỏ qua mà nên hỗ trợ bé để bé vui thích với bữa ăn, để thức ăn đem lại niềm hứng thú cho bé mặc dù chiến trường sau đó mẹ dọn dẹp hơi bị vất vả. Nếu được có thể cho bé ngồi chung bàn ăn với gia đình và nếm chút đỉnh thức ăn người lớn: vài muỗng canh, miếng chả đùm, nhai vài hạt cơm.
  • Ông bà dạy rằng “học ăn, học nói, học gói, học mở”, vậy học ăn là hàng đầu, rồi bé sẽ ăn uống gọn gàng và có thói quen ăn uống tốt khi bé lớn lên.
  • Sẽ có thời kỳ bé ham chơi hơn ăn hay còn gọi là biếng ăn sinh lý. Hiện tượng này có thể đi kèm với tình trạng tăng cân chậm. Tuy nhiên mẹ không cần quá lo lắng la mắng, ép bé… chẳng có tác dụng gì mà còn làm bé sợ thức ăn kéo dài. Cho dù bé ăn ít mẹ chỉ cần đảm bảo các bữa ăn của bé có đủ chất dinh dưỡng là được.
  • Thông thường thì cháo đặc lại nghèo năng lượng hơn bột đặc, tuy nhiên có thể cho bé ăn thay đổi theo khẩu vị.
  • Thỉnh thoảng cho bé cầm gặm những món cứng một chút như củ sắn, miếng táo, mận, miếng bánh mì, bánh lạt cứng… để chắc nướu răng, đỡ ngứa nướu khi mọc răng… song cần chú ý tránh để bé bị hóc.

Lúc này bạn có thể cho bé ăn xen kẽ thêm yaourt, sữa bò, trứng cả lòng trắng lẫn lòng đỏ trong chế độ dinh dưỡng cho bé 1 tuổi hàng ngày nhưng phải nấu chín kỹ. Để cung cấp phong phú hơn các chất dinh dưỡng và cũng là làm mới cho khẩu vị của bé.

Từ khóa:

  • trẻ sơ sinh ngủ không sâu giấc hay vặn mình
  • benh hay gap o tre so sinh
  • tre so sinh di ngoai nhieu lan trong ngay co sao khong
  • trẻ sơ sinh bị đi ngoài mẹ nên ăn gì

Các bệnh về da thường gặp ở trẻ sơ sinh và cách xử lý

Bé mới sinh hay bị rôm sảy, hâm tả, cức trâu, ghẻ ở trên đầu có kèm theo mủ nước, lác sữa, nổi bớt nhiều nơi trên cơ thể là những bệnh ngoài da hay gặp ở bé, nhất là vào mùa nóng.

  • Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh có nguy hiểm không?
  • Cách điều trị bệnh rôm sảy ở trẻ em mùa nắng nóng

Những bệnh ngoài da thường gặp ở trẻ sơ sinh & cách xử lý

1/ Trẻ sơ sinh bị rôm sảy ở mặt, đầu

Hầu hết, các trẻ nhỏ thường bị rôm sảy vào những ngày cao điểm nắng nóng, khi mà mồ hôi thay vì thoát ra ngoài để làm mát cơ thể lại bị ứ đọng lại.

Rôm sảy rất dễ nhận biết bằng những hạt hồng lấm chấm, hơi cứng và có thể có nước. Vị trí rôm nổi nhiều nhất thường là lưng, bã vai, bắp tay, bắp chân, ngực.

be-bi-rom-say

Để giúp trẻ thoát khỏi những ngứa ngáy khó chịu do rôm, mẹ nên cho bé mặc đồ có chất liệu thoáng mát, hút ẩm tốt; để bé được tự chơi thay vì ẵm bồng vào người; lau hoặc thay áo ngay khi mồ hôi đổ nhiều; tắm rửa hàng ngày bằng nước mát hoặc nước mướp đắng để làm đét nốt rôm và tuyệt đối không làm trầy xướt vùng da nổi rôm.

2/ Hăm tả

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chứng hăm tã của trẻ sơ sinh là do môi trường ẩm ướt và vi khuẩn trú ngụ trong tã suốt nhiều giờ liền. Do đó, nguyên tắc để bảo vệ vùng da bẹn cho các bé là mẹ phải thường xuyên thay tã cho bé. Thời gian đầu, bạn có thể thay ngay khi tã ướt hoặc bẩn để tránh dẫn đến tình trạng da căng bóng và nổi mụn mủ. Nếu bé có triệu chứng tấy đỏ, mẹ nên dùng những loại kem trị hăm được bác sĩ chỉ định để thoa trực tiếp lên vùng hăm. Trước khi mang tã mới cho trẻ, mẹ phải chắc chắn vùng da bé đã được xử lý sạch sẽ và khô thoáng. Chịu khó để bé được “nuy” trong thời gian bị hăm sẽ giúp bé mau lành hơn. Nếu đã dùng thuốc mà tình trạng hăm vẫn không thuyên giảm, mẹ nên đưa bé đến bác sĩ.

3/ Lác sữa ở trẻ trên 6 tháng tuổi

Hiện tượng lác sữa phổ biến hơn với những trẻ đã 6 tháng tuổi. Lác sữa có thể nổi ở hai má, mặt và có thể lan đến mình lẫn tay chân.

Khi bắt đầu phát bệnh, lác sữa chỉ là những mẩn đỏ li ti, sau có xuất hiện những mụn nước. Tiến triển của bệnh nặng hơn sẽ làm vùng da nổi lác bị mẩn đỏ, nứt nẻ, rịn nước, đóng mày và tróc vảy.

Đây là bệnh có thể tái đi tái đi nếu điều kiện chăm sóc bé không tốt.

Để phòng ngừa, nên cho bé ở nơi thoáng mát và ăn mặc sạch sẽ; vệ sinh móng tay, móng tay gọn gàng, tránh để bé dùng tay cào xướt da; dùng những dung dịch làm sạch da như cetaphil, physiogel, oilatum để tắm rửa hàng ngày cho bé; sau mỗi bữa ăn nên dùng một khăn sạch lau rửa cẩn thận vùng mặt và cổ bé; tránh cho bé tiếp xúc với chó, mèo; khi đã phát bệnh tốt nhất nên tránh cho bé dùng những thực phẩm có thể làm bệnh trầm trọng hơn như gan, mỡ động vật hoặc trứng.

Đặc biệt, khi chưa có chỉ định của bác sĩ, không nên tự ý dùng thuốc uống hoặc thoa để tránh làm bệnh nặng hơn.

4/ Trẻ bị ghẻ ngứa

Ghẻ là một bệnh ngoài da có nguyên nhân từ vi khuẩn. Do đó nó có thể lây lan nhanh khi từ những nốt đỏ chúng có thể vỡ và rỉ dịch ra ngoài. Bệnh có biểu hiện là những nốt mụn đỏ, sau đó vỡ ra, rỉ nước trong một vài ngày và đóng vảy, thường xuất hiện ở vùng mặt, nhất là quanh mũi và miệng. Bệnh dễ lây và thường có nguyên nhân do vi khuẩn.

Tốt nhất là hãy tập cho trẻ có thói quen vệ sinh tay chân thường xuyên trong ngày và tắm rửa sạch sẽ sau mỗi lần vui chơi.

5/ Mụn nhọt li ti

Mụn nhọt có nguyên nhân từ tụ cầu dẫn đến viêm toàn bộ các tổ chức xung quanh nang lông. Ban đầu, mụn chỉ hơi sưng tấy, dần dà vết sưng to dần lên, tạo mũ bên trong và khiến đau nhức tại chỗ. Khi mụn nhọt đã mềm và vỡ ra chúng có thể để lại sẹo.

Để tránh nổi mụn nhọt, trẻ nên hạn chế dùng các thức ăn ngọt, những đồ ăn có tính nóng và sinh nhiệt. Vào những ngày nắng nóng, tránh chảy nhạy ngoài trời và phải ăn mặc thoáng mát.

Nếu chỉ là một hai nốt, mẹ có thể dùng bã đậu xanh đắp cho trẻ như cách trị trong dân gian để giảm sưng và đét mủ.

Trường hợp nặng nên cho bé đi khám để tìm ra nguyên nhân thực sự của bệnh.

Như vậy, với trẻ sơ sinh, phần lớn những vấn đề về da trong các tuần đầu sau sinh đều tự đến và tự đi nếu không có sự “can thiệp” quá sâu như cạy hoặc nặn dẫn đến trầy hoặc xước. Khi trẻ lớn hơn một chút, chỉ cần giữ gìn vệ sinh sạch sẽ và ăn mặc thoáng mát theo mùa bé có thể tránh được những phiền toái mà bệnh ngoài da đem lại.

6/ Hạt kê

Những hạt kê chính là các hạt màu trắng đục có thể nằm dưới da hoặc tạo thành những chấm trắng nổi trên các vùng da ở mũi, trán hoặc gò má hay ít hơn là trường hợp nổi ở bắp tay. Đây chính là những bã nhờn bị ứ đọng lại và chúng hoàn toàn vô hại.

Trong tất cả các trường hợp, hiện tượng này sẽ tự mất chỉ sau vài tuần. Vì thế, để tránh làm da bé ửng đỏ, mỗi khi tắm bố mẹ chỉ nên lau rửa nhẹ nhàng bằng khăn bông mềm, tránh kỳ mạnh hoặc cọ xát làm trầy xướt da của bé.

7/ Nổi phát ban

Sau vài ngày lọt lòng, trẻ sơ sinh có thể xuất hiện những mảng da đỏ với các đốt nhỏ lấm chấm tựa như nốt muỗi chích, trên đầu mỗi đốt có đầu mủ vàng. Đây chính là hiện tượng phát ban đỏ.

Thông thường phát ban xuất hiện nhiều trên mình nhưng có không ít trường hợp xuất hiện cả trên mặt và chân tay.

Cũng như những vấn đề về da sau sinh, các nốt phát ban này sẽ chóng đi chỉ sau 7-10 ngày sau sinh mà không để lại dấu vết nào. Do đó, bố mẹ không cần quá sốt ruột để rồi tự ý dùng tay nặn hoặc cạy các đốt này ra, gây đau đớn và tổn thương cho làn da của bé.

8/ Cứt trâu

Cứt trâu theo cách gọi dân gian thực chất là hiện tượng tăng tiết bã nhờn ở trẻ nhỏ. Trên da đầu hoặc chân mày của bé sẽ xuất hiện những mảng vẩy màu vàng hơi nâu hoặc trắng. Nếu xuất hiện sau tai, thường sẽ thấy những mảng vảy có vết nứt. Đây là hiện tượng rất phổ biến và không gây hại hoặc khó chịu cho bé.

tre-bi-cut-trau

Để xử lý, mẹ có thể thoa một lớp dầu oliu lên đầu bé khoảng nửa tiếng trước khi gội để các lớp này tự bong tróc ra. Khi tắm dùng khăn bông mềm lau nhẹ các mảng đã tróc. Khi lau khô đầu bé, dùng một khăn bông khô vỗ nhẹ để phủi các lớp bong tróc đi.

9/ Bớt xanh, tím sau khi sinh

Một số bé sau sinh trên vùng bẹn, mông hoặc bắp tay, cánh tay, chân có xuất hiện những vết bớt màu xanh hoặc tím. Đó là kết quả của sự ứ đọng các tế bào melanocyte ở lớp biểu bì của da mà ra. Chỉ cần qua một thời gian, chúng sẽ tự lặn đi và không để lại dấu vết gì. Trường hợp những vết bớt có nhúm lông hoặc nổi cộm trên bề mặt da có thể là dấu hiệu của những bệnh lý nguy hiểm cần được thông báo cho các bác sĩ.

10/ Dịch nhớt bám ngoài da trong 48 tiếng đầu

Sau khi mỗi đứa trẻ chào đời, lớp thượng bì trên cấu trúc da sẽ bong ra nhằm bảo vệ cho cơ thể của bé tránh bị hạ nhiệt đột ngột đồng thời có công dụng như một lá chắn giúp trẻ miễn dịch. Với những người lần đầu làm mẹ thường nhầm tưởng đó là dịch bẩn và cố làm sạch chúng đi để vệ sinh cho bé. Tuy nhiên, hành động sai lầm này có thể khiến da bé dễ bị kích ứng và hăm đỏ. Tốt nhất, hãy đợi qua 48 tiếng sau sinh, mẹ hãy lau sạch dịch này để bảo vệ an toàn cho da bé.

Do cấu trúc da của trẻ sơ sinh chỉ là một lớp mỏng, có tính xốp lại chứa nhiều nước. Trong khi đó các sợi cơ lại ít đàn hồi nên cực kỳ nhạy cảm. Bố mẹ chăm sóc bé phải hết sức chú ý điều này để tránh những việc làm vô ý tổn thương đến làn da mỏng manh của bé.

tu khoa

  • trẻ sơ sinh bị nổi mụn mủ trên đầu
  • cách chữa mụn nhọt nhanh nhất
  • tre so sinh bi ham ta phai lam the nao

Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh có nguy hiểm không?

Vàng da sơ sinh có 2 dạng có thể là bệnh vàng da sinh lý và vàng da bệnh lý, nếu sinh lý thì sau vài tuần trẻ sẽ hết nhưng bệnh vàng da bệnh lý thì cần điều trị kịp thời nếu không dễ bị tử vong và bại não

  • Tác dụng của dầu dừa đối với bà bầu như thế nào?
  • Tác dụng của trứng ngỗng với bà bầu

Nguyên nhân gây vàng da trẻ sơ sinh

Vàng da sơ sinh là do tăng Bilirubin gián tiếp (VDSS) rất hay gặp, bệnh xảy ra ở 25-30% ở trẻ đủ tháng và đa số ở trẻ non tháng. Bệnh thường xảy ra trong tháng tuổi đầu tiên nhưng nguy hiểm nhất là trong 2 tuần đầu tiên.Vàng da sơ sinh có thể ở mức độ nhẹ (vàng da sinh lý) nhưng cũng có thể tiến triển nặng (vàng da bệnh lý).

Nếu không phát hiện và điều trị vàng da bệnh lý kịp thời thì có thể xảy ra biến chứng nhiễm độc thần kinh (còn gọi là vàng da nhân) do Bilirubin gián tiếp thấm vào não mà hậu quả là trẻ sẽ bị tử vong hoặc bị bại não suốt đời.

Theo bác sĩ Hoàng Lê Phúc, Trưởng Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM, vàng da kéo dài ở trẻ hơn 2 tuần tuổi thường là do bệnh lý, đặc biệt là các bệnh ở gan, có thể do trẻ bị teo đường mật bẩm sinh hoặc viêm gan hoặc bệnh lý nhiễm trùng bào thai gây ứ mật hay các bệnh lý rối loạn chuyển hóa… Những bệnh lý này cần được chẩn đoán và điều trị sớm, nhất là đối với bệnh teo đường mật bẩm sinh, cần phẫu thuật trước 3 tháng tuổi để tránh tình trạng ứ mật dẫn đến xơ gan. Người VN vẫn còn thói quen cho các bà mẹ và trẻ trong vòng tháng đầu sau sinh nằm trong buồng tối, có người hầu như không dám bước ra ánh sáng, đến ngày trẻ đầy tháng đem ra ngoài mới phát hiện vàng da.

Bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh có nguy hiểm không?

Nhiều trường hợp trẻ vàng da được gia đình tự điều trị không thích hợp, khi đến bệnh viện thì quá muộn, trẻ đã bị suy gan, xơ gan. Dù không phải trẻ bị vàng da nào cũng có thể chữa khỏi hoàn toàn nhưng việc chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp có thể giúp tăng chất lượng cuộc sống, kéo dài đời sống của trẻ, chờ ghép gan. Để phát hiện sớm tình trạng vàng da, các bà mẹ không nên nằm buồng tối sau sinh, nên thường xuyên mang trẻ ra ánh sáng để quan sát, phát hiện kịp thời màu sắc bất thường của da. Những trẻ có tình trạng vàng da kéo dài hơn 2 tuần sau sinh nên đưa đến khám tại bệnh viện, không nên xem thường hoặc tự chạy chữa. Ngoài ra, cũng cần quan sát phân và nước tiểu của trẻ. Nếu trẻ bị vàng da có  tiêu phân bạc màu, phân trắng, tiểu vàng sậm dù đã uống đủ nước, cần phải đưa  trẻ đến bệnh viện để được khám và điều trị thậm chí khi trẻ trông khỏe mạnh, bụ bẫm.

Phân biệt vàng da sinh lý và bệnh lý ở trẻ sơ sinh

Thế nào là vàng da sinh lý ở trẻ sơ sinh?

Ở trẻ đủ tháng, bình thường thì vàng da được coi là sinh lý khi vàng da xuất hiện sau 24 giờ tuổi. Hết trong vòng 1 tuần với trẻ đủ tháng và 2 tuần đối với trẻ non tháng. Mức độ vàng da nhẹ (chỉ vàng da vùng mặt, cổ, ngực và vùng bụng phía trên rốn). Vàng da đơn thuần, không kết hợp các triệu chứng bất thường khác (thiếu máu, gan lách to, bỏ bú, lừ đừ…). Nồng độ bilirubin/máu không quá 12mg% ở trẻ đủ tháng và không quá 14mg% ở trẻ non tháng…Tốc độ tăng bilirubin/máu không quá 5mg% trong 24 giờ.

Thế nào là vàng da bệnh lý ở trẻ sơ sinh?

Vàng da được coi là bệnh lý khi có bất thường từ một trong số các tiêu chuẩn sau:

– Vàng da đậm xuất hiện sớm;

– Không hết vàng sau 1 tuần với trẻ đủ tháng và 2 tuần đối với trẻ non tháng;

– Mức độ vàng toàn thân và cả mắt;

– Vàng da kết hợp các triệu chứng bất thường khác (trẻ lừ đừ, bỏ bú, co giật…);

– Xét nghiệm bilirubin trong máu tăng hơn bình thường.

Khi có các dấu hiệu vàng da bệnh lý như nói trên, cần phải đưa ngay trẻ đi khám bác sĩ chuyên khoa Nhi để được chẩn đoán và điều trị  càng sớm càng tốt

Các phương pháp điều trị vàng da sơ sinh?

Cho đến nay, tại các khoa sơ sinh, điều trị vàng da sơ sinh bằng 3 phương pháp chính, đó là:

– Cung cấp đầy đủ nước và năng lượng (qua cho bú hoặc truyền dịch), truyền albumin và dùng một số loại thuốc để gia tăng tốc độ chuyển hoá bilirubin gián tiếp.

– Chiếu đèn là phương pháp điều trị vàng da sơ sinh hiệu quả nhất, an toàn, đơn giản và kinh tế nhất.

– Thay máu khi bé có triệu chứng đe dọa nhiễm độc thần kinh do bilirubin trong máu tăng cao.

Tùy trường hợp cụ thể, các bác sĩ có thể sử dụng 1 – 2 hay 3 phương pháp cùng lúc.

Chiếu đèn điều trị vàng da được chỉ định khi nào?

Chiếu đèn là sử dụng ánh sáng có bước sóng từ 400 – 500nm, cực điểm 450 – 460nm tương ứng với đỉnh hấp thụ của bilirubin (ánh sáng màu xanh dương). Khi chiếu đèn năng lượng, ánh sáng sẽ xuyên qua da, tác động lên các phân tử bilirubin nằm trong lớp mỡ dưới da để biến đổi các phân tử bilirubin gián tiếp (độc cho não của trẻ) thành các sản phẩm đồng phân hay các sản phẩm quang oxy hoá tan được trong nước, không độc và sẽ được đào thải qua gan (qua mật) và thận (qua nước tiểu). Chiếu đèn được chỉ định sau 24 giờ tuổi để điều trị vàng da tăng bilirubin gián tiếp bệnh lý chưa có triệu chứng tiền nhiễm độc hay nhiễm độc thần kinh. Cũng có thể chiếu đèn dự phòng trong các trường hợp có nguy cơ vàng da sơ sinh như: trẻ non tháng, có bướu huyết thanh, sọ to, trẻ có tán huyết…

Chú ý: Khi chiếu đèn, trẻ được cởi trần, có che kín mắt và bộ phận sinh dục, thường xuyên xoay trở mình cho trẻ để tăng diện tích da tiếp xúc với ánh sáng. Có thể chiếu đèn liên tục hay cách quãng, với trẻ đủ tháng khỏe mạnh, khoảng sau 3 giờ, có thể cho trẻ ra ngoài để bú mẹ hoặc thay tã. Ở nơi có điều kiện, các trẻ vàng da bệnh lý mức độ nhẹ hoặc trung bình thì có thể thực hiện chiếu đèn tại phòng riêng của mẹ có sự theo dõi của bác sĩ chứ không cần ở phòng cách ly. Thực hiện việc chiếu đèn sớm có tác dụng khi trẻ xuất viện sẽ không còn nguy cơ vàng da nặng.

Lời khuyên của chuyên gia về chứng vàng da ở trẻ sơ sinh

Như trên đã nói, nếu không phát hiện và điều trị vàng da bệnh lý kịp thời sẽ dẫn đến vàng da nhân, hậu quả là để lại di chứng bại não suốt đời, thậm chí tử vong. Do vậy, tốt nhất để phòng vàng da bệnh lý bằng cách các bà mẹ mang thai cần khám thai định kỳ, đặc biệt, các tháng cuối cần có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý để không bị sinh non; khi sinh cần đến cơ sở y tế để được cán bộ có chuyên môn theo dõi và đỡ đẻ; Đối với các trẻ mới chớm vàng da thì có thể tắm nắng ấm mỗi sáng, nhưng nếu trẻ đã vàng da nhiều thì phải sớm đưa trẻ đi khám ở bác sĩ chuyên khoa Nhi để được điều trị ngay.

Theo suckhodoisong, eva

tu khoa

  • benh vang da o tre so sinh
  • cach dieu tri benh vang da
  • benh vang da o tre so sinh co nguy hiem khong

Cách điều trị bệnh chân tay miệng ở trẻ em nhanh và an toàn

Hướng dẫn chữa bệnh chân tay miệng ở trẻ em nhanh và an toàn và cách chăm sóc trẻ bị đau tại nhà,  chế độ dinh dưỡng, thuốc men và vệ sinh thân thể cho bé đúng cách

  • Những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè và cách trị bệnh
  • Những bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi

Nguyên nhân và triệu chứng bệnh chân tay miệng

Bệnh tay chân miệng là bệnh thường gặp ở trẻ em, có khả năng bùng phát thành dịch trong thời gian ngắn. Đây là bệnh gây nguy hiểm và có thể gây tử vong cao và sẽ tăng cao vào tháng 4 – 5 này. chính vì thế các bậc phụ huynh cần có kiến thức nhất định trong việc chăm sóc sức khỏe cho các bé để tránh tình trạng xấu nhất.

Triệu chứng của bệnh tay chân miệng bắt đầu xuất hiện sau khi nhiễm virus từ 3 – 6 ngày. Biểu hiện sớm nhất của bệnh là mệt mỏi, sốt nhẹ (38 – 38,5 độ C), đau họng, sổ mũi diễn ra trong vài ngày.

Sau đó bệnh chuyển sang giai đoạn toàn phát. Đầu tiên là sự xuất hiện các mụn nước ở niêm mạc miệng, thường là ở mặt trong má, lợi, mặt bên của lưỡi; các mụn nước có kích thước nhỏ (2 – 3mm) nằm trên một nền niêm mạc viêm đỏ. Các mụn nước trong miệng thường dập vỡ rất nhanh tạo ra các vết trợt loét rất đau rát làm bệnh nhân khó ăn uống.
Tiếp theo, xuất hiện các mụn nước, bọng nước ở bàn chân, bàn tay, đôi khi gặp cả mụn nước, bọng nước ở mông. Các mụn nước, bọng nước này thường không gây đau rát; chúng tồn tại trong vòng 7 đến 10 ngày rồi xẹp xuống và tự mất đi kể cả khi không được điều trị. Bệnh nhân có khả năng lây bệnh cho người khác qua đường hô hấp trong 1 tuần đầu bị bệnh. Bệnh nhân còn có khả năng đào thải virus qua phân trong vòng vài tuần sau.

Cách điều trị bệnh chân tay miệng ở trẻ em nhanh và an toàn

Sau khi khỏi bệnh, cơ thể bệnh nhân có miễn dịch với chủng virus gây bệnh, nhưng một người có thể bị bệnh tay chân miệng nhiều lần nếu lần sau bị nhiễm các chủng virus khác với những lần trước. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 10 tuổi, tuy nhiên người lớn chưa có miễn dịch với bệnh cũng có thể mắc bệnh

Hướng dẫn chữa trị bệnh chân tay miệng ở trẻ em

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị chống EV71, vì vậy việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và các biện pháp điều trị tích cực nhằm duy trì chức năng sống đối với các trường hợp nặng, đặc biệt có suy tuần hoàn, hô hấp.

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị chống virut EV71. Một số nghiên cứu dùng acyclovir là thuốc kháng virut hoặc dùng interferon là một nhóm protein tự nhiên được sản xuất bởi các tế bào của hệ miễn dịch của hầu hết các động vật nhằm chống lại các tác nhân gây bệnh như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng và tế bào ung thư. Hiện nay, các chế phẩm interferon gamma chủ yếu được dùng trong các bệnh viêm gan do virut B, C hoặc HIV/AIDS. Còn các loại interferon có khả năng ức chế EV71 vẫn đang được thử nghiệm.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương có đưa ra hướng dẫn xử trí bệnh TCM từ năm 2011 như sau:

– Nếu trẻ mới có các dấu hiệu như sốt hoặc bệnh sử có sốt, ban sẩn mụn nước ở tay chân, có thể loét miệng hoặc không. Đây là giai đoạn không có biến chứng có thể điều trị tại nhà các triệu chứng này: dùng paracetamol hạ sốt giảm đau. Uống bù nước và điện giải bằng dung dịch oresol. Dùng dung dịch sát khuẩn da như xanhmethylen, milian… và niêm mạc như zytee, kamistad… cho các vết loét. Và hướng dẫn cha mẹ nhận biết các dấu hiệu nguy cơ như sốt cao, li bì, nôn… để đưa trẻ đến cơ sở y tế.

Theo dõi các dấu hiệu lâm sàng chưa có nguy cơ từ 1 – 2 ngày hoặc tới 1 tuần lúc đó bé sẽ hồi phục.

– Nếu trẻ có các dấu hiệu nặng lên cần đưa trẻ tới viện ngay.

Lưu ý: Bệnh TCM là bệnh nhiễm khuẩn do virut đường ruột, nên kháng sinh thông thường không có tác dụng. Các bà mẹ thấy con bị bệnh TCM là dùng ngay kháng sinh mà không biết rằng bệnh TCM do virut nên việc dùng kháng sinh không những không có tác dụng gì đối với bệnh mà chỉ gây hại sức khỏe, làm bệnh nặng lên và tạo nên tình trạng kháng thuốc trong cộng đồng rất khó khăn cho việc điều trị bệnh nói chung và bệnh TCM nói riêng.

Cách chăm sóc bênh tay chân miệng ở trẻ em tại nhà

Với những trẻ bị TCM thể nhẹ (chỉ có mụn nước và loét miệng), có thể chăm sóc và theo dõi điều trị ở nhà. Cụ thể:

  • Về dinh dưỡng: Cho trẻ uống nhiều nước mát và ăn thức ăn dễ tiêu. Không làm trẻ đau họng thêm bằng cách dùng muỗng mềm cho ăn, không cho ngậm vú nhựa, không cho ăn, uống đồ có vị chua hoặc có gia vị.
  • Thuốc men: Chỉ dùng thuốc paracetamol để hạ sốt và giảm đau và các thuốc khác do bác sĩ kê. Bù đủ nước cho bệnh nhân nếu có sốt cao. Vệ sinh miệng thường xuyên bằng các dung dịch sát khuẩn. Tại các vị trí bị thương tổn ngoài da, bôi các dung dịch sát khuẩn để tránh bội nhiễm. Có thể súc miệng bằng nước muối loãng nếu trẻ súc được.
  • Cách ly và thực hiện vệ sinh thân thể: Cách ly trẻ bị bệnh với các trẻ khác trong nhà. Người lớn khi tiếp xúc và chăm sóc trẻ bệnh nên mang khẩu trang y tế cho mình và cho cả trẻ bệnh, sau khi tiếp xúc nên rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng và nước sạch ngay để hạn chế sự lây lan khi phải chăm sóc trẻ lành. Quần áo, tã lót của trẻ bệnh nên được ngâm dung dịch sát khuẩn như cloramin B 2% hoặc luộc nước sôi trước khi được giặt sạch sẽ bằng xà phòng và nước sạch. Vật dụng cá nhân ăn uống của trẻ như bình sữa, ly uống nước, chén ăn cơm, muỗng ăn… nên được luộc sôi và sử dụng riêng biệt cho từng trẻ. Tắm rửa và vệ sinh nhẹ nhàng thân thể cho bé hằng ngày bằng nước sạch để tránh nhiễm khuẩn.
  • Theo dõi sát tình trạng bệnh: Tốt nhất trong 7 ngày kể từ lúc bị bệnh, ngoài việc chăm sóc tại nhà và dùng thuốc theo đơn thì hằng ngày nên tái khám để phát hiện sớm những diễn biến bất thường. Chú ý, bệnh lây lan mạnh nhất trong tuần đầu nhưng virut có thể còn tồn trong phân vài tháng sau.

Từ khóa:

  • Cach cham soc tre bi tay chan mieng dung cach
  • Huong dan cham soc tre bi tay chan mieng
  • Bi quyet cham soc tre bi tay chan mieng