Trẻ sơ sinh bú bao nhiêu lần trong ngày?

Bé mới sinh bú 8-12 lần/ ngày mất 20-30 phút/ lần, càng lớn số lần bú của trẻ giảm dần nhưng lại cần nhiều sữa hơn cho mỗi lần bú. Chi tiết lượng sữa & số lần bú cho trẻ theo tháng tuổi & cân nặng bên dưới.

Trẻ sơ sinh ngủ bao nhiêu là đủ?

Tùy theo cân nặng, nhu cầu và sức bú của mỗi trẻ mà lượng sữa bú được nhiều ít khác nhau.Theo lời khuyên từ các chuyên gia, nên cho trẻ sơ sinh bú nhiều lần từ 8 – 12 cữ sữa trong một ngày. Mỗi cữ cách nhau 2 tiếng nếu bú mẹ và 3 tiếng nếu uống sữa công thức.

Mỗi lần bú mẹ, trẻ phải được duy trì được từ 20 đến 30 phút vì khoảng 10 phút đầu tiên, trẻ chỉ bú được lượng nước là chủ yếu trong khi lượng sữa tiết ra sau đó mới thực sự mang nhiều dưỡng chất tốt cho sự phát triển của trẻ. Trẻ có thể nghỉ giữa chừng để nghỉ mệt.

Sau hai tuần đầu, trẻ có thể bú trung bình từ 60ml – 100ml/ cữ. Khi đã được 3 tháng lượng sữa của bé mỗi lần bú có thể tăng từ 120 – 150ml và duy trì tiếp tục lượng này cho đến những tháng kế tiếp.

Tùy theo nhu cầu của trẻ mà cân nhắc việc cho trẻ bú đêm hay không. Bởi lẽ nếu cản trở giấc ngủ đêm của trẻ từ 10h đêm – 3h sáng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí não và thể trạng của trẻ.

Bạn có thể tham khảo bảng sau để biết cữ bú trong ngày của trẻ sơ sinh:

tre-so-sinh-bu-bao-nhieu-lan-1-ngay

Trẻ sơ sinh bú bao nhiêu lần 1 ngày?

Bé bú mẹ 8 lần/ngày sẽ nhận khoảng 90 ml mỗi cữ bú. Tất nhiên, đây chỉ là con số trung bình, không thể áp dụng cho mọi trẻ. Lượng sữa mẹ mà bé bú sẽ không đổi trong suốt thời gian từ 1 tháng tới khoảng 6 tháng.  Tuổi và trọng lượng cơ thể của bé không ảnh hưởng tới lượng sữa mẹ được bú mỗi ngày. Tuy nhiên, tại các giai đoạn tăng trưởng mạnh (thường xuất hiện lúc bé 1-3 tuần, 6-8 tuần, 3 tháng và 6 tháng tuổi), bé có thể bú nhiều hơn bình thường trong vòng 2 – 3 ngày.

Làm sao để biết bé đã bú đủ sữa?

Vậy làm sao để biết bé đã bú đủ sữa và nên ngưng đúng lúc, không nên ép con bú thêm nữa? Mẹ cũng nhận biết qua các dấu hiệu sau:

  • Em bé nên bám vào bạn và bú nhịp nhàng trong khoảng 10-15 phút mỗi vú. Thỉnh thoảng bé có thể ngừng lại giữa chừng nhưng sẽ bú rất mạnh trong suốt thời gian cho bú. Nếu mẹ nhiều sữa, bé sẽ tỏ ra thoải mái và hài lòng sau khi bú và thường ngủ thiếp đi ở bên vú thứ hai.
  • Khi bé bú, bé có thể phát ra tiếng bé gù gù và khi bé bú đã đủ no, bé hay chìm ngay vào giấc ngủ và thể hiện cảm xúc hài lòng trên gương mặt.
  • Bé nhanh nhẹn, tỉnh táo, khóc to, môi hồng hào và ẩm ướt.
  • Hai bên ngực mẹ bớt căng sữa, nhẹ nhàng và thoải mái hơn sau mỗi lần cho con bú xong.
  • Bé thỏa mãn và thư giãn sau cữ bú.
  • Bầu vú mẹ mềm hơn sau mỗi lần cho con bú.

Bé bú đêm nhiều phải làm sao?

Điều này đúng với trẻ nhũ nhi. Trong thời gian này, bé chủ yếu bú bằng sữa mẹ nên việc bú đêm là điều khó tránh khỏi. Vì bé không thể no bụng hoàn toàn với lượng sữa ban ngày. Tuy nhiên, với bé trên 6 tháng tuổi thì điều này không hoàn toàn đúng. Vì ban ngày, bé đã được mẹ cho ăn 2 cữ bột đặc và loãng, cộng thêm sữa mẹ hoặc sữa công thức. Như vậy, bé trên 6 tháng thức dậy và đòi ‘ti” mẹ vào ban đêm có thể do bé bị đau bụng hoặc tã ướt, răng mọc khiến bé đau chẳng hạn. Và lúc này, bé chỉ cần ngậm ti mẹ và ngủ tiếp thôi. Và mẹ nên tập cho bé bỏ cữ bú đêm dần dần.

Bé từ 6 tháng tuổi trở đi không cần thiết phải được bú đêm nữa vì lúc này, bé đã bước vào giai đoạn ăn dặm. Các chuyên gia khuyên bạn nên cho bé ăn bữa chiều, tối loãng hơn để bé dễ tiêu hóa khi ngủ. Bạn cũng không nên cho bé ăn thật no trước giờ ngủ vì làm như vậy bé sẽ bị nặng bụng, hay quấy khóc vào ban đêm. Nếu bé đòi bú đêm, bạn nên tập cho bé quen với việc ngủ một mạch tới sáng. Khoảng từ tháng thứ 6 trở đi, bé đã có thể ngủ liền 11 tiếng đồng hồ và không cần được ăn đêm nữa. Bạn nên tăng cường giờ chơi và thức vào ban ngày, để ban đêm, bé có thể ngủ một giấc sâu hơn.

Không ít mẹ cực kỳ nuông chiều con, vì sợ con nhẹ cân nên vẫn duy trì thói quen bú sữa vào ban đêm dù bé đã lớn. Kết quả là, hàm răng sữa bé xinh của trẻ đen sì vì bị sâu răng đục khoét, ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng đến “hàng tiền đạo” của con sau này.

Hơn nữa, bú đêm còn tác động tiêu cực đến giấc ngủ của trẻ. Làm sao bé có thể ngủ thẳng và ngon giấc khi cứ 2-3 tiếng/lần lại dựng dậy bú sữa? Mẹ có biết, thiếu ngủ sẽ gây hại cho sức khỏe, đồng thời gây cản trở sự phát triển chiều cao của trẻ?

5 yếu tố cản trở chiều cao của trẻ

Bú đêm thiệt cho con là vậy, nhưng thiệt cho mẹ cũng không kém cạnh. Thiếu ngủ, làm sao mẹ đủ năng lượng để làm việc và chăm sóc gia đình vào ngày hôm sau? Áp lực, căng thẳng quá nhiều không tốt cho sức khỏe cũng như nhan sắc đâu mẹ ạ. Vì vậy, khi bé đủ ngày đủ tháng để cai sữa, mẹ đừng ngại thực thi ngay, càng sớm càng khỏe.

Nếu bé bú đêm, nên cho bé bú trước 21h và sau 5h sáng, vì khi ngủ vào ban đêm, hệ tiêu hóa cần được nghỉ. Hơn thế, bản thân quá trình tiêu hóa hấp thu về đêm cũng diễn ra rất chậm. Nếu trẻ bú đêm nhiều lần, giấc ngủ sẽ không sâu, dẫn đến khả năng hấp thụ cũng kém hơn, nhiều trường hợp có thể dẫn đến biếng ăn vào ban ngày, không có lợi cho hệ tiêu hóa của trẻ.

Nên cho trẻ bú sữa mẹ đến khi nào

Sữa mẹ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trogn giai đoạn đầu phát triển của trẻ sơ sinh, trẻ càng có cơ hội tiếp xúc sớm và duy trì bú sữa mẹ lâu nhất thì càng có nhiều kháng thể để phát triển khoẻ mạnh hơn. Vậy nên cho trẻ bú sữa mẹ đến khi nào? Hãy xem tư vấn của bác sĩ chuyên khoa nhi bệnh viện Từ Dũ tư vấn như sau nhé:

  • Cho bé bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh để tận dụng sữa non, kích thích sữa non xuống sớm, và giúp co hồi tử cung cho mẹ.
  • Cho bé bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Bú mẹ hoàn toàn là chỉ bú mẹ mà thôi, ngay cả nước cũng không cho bé uống.
  • Bắt đầu cho bé ăn dặm từ tháng thứ 6 và tiếp tục cho bú sữa mẹ đến 24 tháng.

từ khoá:

  • trẻ sơ sinh ngủ bao nhiêu tiếng một ngày
  • bé 4 tháng bú bao nhiêu sữa mỗi ngày
  • lượng sữa cho bé theo tháng tuổi
  • sữa cho bé 6 tháng tuổi
  • bé 6 tháng tuổi ăn được váng sữa chưa

Lịch tiêm chủng mở rộng quốc gia cho trẻ em năm 2017

Các mũi văc xin cần thiết cho trẻ sơ sinh trong lịch tiêm chủng mở rộng quốc gia Viêm gan B, lao (BCG), Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týpb..

Lịch tiêm mở rộng 2017 

Một số trường hợp nên hoãn tiêm phòng

  • Bé đang bị sốt vì bệnh nào đó. Có thể hoãn lại sau một tuần (tham vấn bác sĩ)
  • Bé đang bị tiêu chảy tại thời điểm uống vaccine bại liệt: vẫn uống vaccine bình thường, nhưng không tính là một lần chủng ngừa. Sau đó vẫn uống tiếp cho đủ lịch. Đối với thuốc chủng ngừa bại liệt dạng tiêm thì vẫn có tác dụng.

LỨA TUỔI

LOẠI VACXIN PHÒNG BỆN

LỊCH TIÊM

Từ sơ sinh (càng sớm càng tốt)
Lao (BCG) Mũi 1: Có thể nhắc lại sau 4 năm
Viêm gan B (Hepatitis B) Mũi 1
Bại liệt (Poliomyelitis) Bại liệt sơ sinh
1 tháng tuổi
Viêm gan B Mũi 2
2 tháng tuổi
Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt (Diphtheria, pertussis, tetanus, polio) Mũi 1
Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b Mũi 1
Viêm gan B Mũi 3 (Một năm sau nhắc lại mũi 4 và 8 năm sau nhắc lại mũi 5)
3 tháng tuổi
Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt Mũi 2
Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b Mũi 2
4 tháng tuổi
Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt Mũi 3 (nhắc lại sau 1 năm)
Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b Mũi 3 (nhắc lại sau 1 năm)
9 tháng tuổi
Vacxin phối hợp sởi, quai bị, rubella (MMR) Tiêm 1 mũi, 4-6 năm sau tiêm nhắc lại (Khi cần thiết nhắc lại sau 15 tháng)
Thủy đậu (Varicella) Tiêm 1 mũi duy nhất (9 tháng – 12 tuổi)Nếu trên 12 tuổi: tiêm 2 mũi (cách nhau 6 – 8 tuần)
12 tháng tuổi
Viêm não Nhật Bản B (Japanese B encephalitis) Tiêm 3 mũi (2 mũi đầu cách nhau 1-2 tuần và mũi 3 sau 1 năm)
15 tháng tuổi
Vacxin phối hợp sởi, quai bị, rubella (vacxin MMR) Tiêm 1 mũi (nhắc lại sau 4-5 năm)
18 tháng và người lớn
Viêm màng não do não mô cầu (vacxin A+C meningoencephalitis) Tiêm 1 mũi(Cứ 3 năm tiêm nhắc lại 1 lần hoặc theo chỉ định khi có dịch)
24 tháng tuổi và người lớn
Viêm gan A (Hepatitis A) = Vacxin Avaxim Tiêm 2 mũiTừ 2-15 tuổi: khoảng cách giữa 2 mũi là 6 thángTrên 15 tuổi: khoảng cách giữa 2 mũi là 6-12 tháng
Viêm phổi, viêm màng não mủ.. do phế cầu khuẩn = vacxin Pneumo 23 Tiêm 1 mũi(Cứ 5 năm nhắc lại 1 lần)
Thương hàn (Typhoid) = vacxin Typhim Vi Tiêm 1 mũi. Cứ 3 năm nhắc lại 1 lần
36 tháng và người lớn
Vacxin Cúm = vacxin VaxigripVacxin được tiêm mỗi năm 01 lần, đặc biệt những người có nguy cơ mắc các biến chứng của bệnh cúm. Có thể dùng cho phụ nữ đang cho con bú. 35 tháng tuổi – người lớn01 liều = 0.5 ml/mỗi năm06 tháng – 35 tháng tuổi01 liều = 0.25ml/mỗi năm(trẻ dưới 8 tuổi: chưa mắc cúm hoặc chưa tiêm chủng phải tiêm liều thứ 2 sau 4 tuần)

Lưu ý: Vacxin bạch hầu – ho gà – uốn ván – bại liệt nên nhắc lại khi 4 – 6 tuổi, 10 – 11 tuổi và 16 – 21 tuổi.

Trẻ bị sốt sau khi tiêm phòng nên làm gì?

Bé bị sốt sau khi tiêm phòng, điều tốt nhất mà bố mẹ cần làm lúc này là cặp nhiệt độ cho bé để theo dõi thân nhiệt. Các mẹ nên cho trẻ nằm ở nơi thoáng mát, mặc quần áo rộng, thoái mái, chườm mát cho trẻ bằng khăn ẩm nhưng không chườm đá hay nước lạnh (nhiều bà mẹ vẫn sử dụng cách này là không nên).

Lịch tiêm chủng mở rộng quốc gia cho trẻ em năm 2016

Đa số các chứng sốt nói trên đều khỏi trong 1-2 ngày, Chỉ có một số ít trường hợp sốt cao mới cần dùng đến thuốc hạ sốt.

  • Bù nước và điện giải: Khi sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rốt loạn cân bằng điện giải trong cơ thể, nên dùng các thuốc có tác dụng bù lượng nước mất qua da và điện giải do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng.
    Dinh dưỡng cho bé: Cần đảm bảo chế độ giàu dinh dưỡng, ăn lỏng và dễ tiêu.
  • Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho bé sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín. Không để trẻ bị nhiễm lạnh, nhất là khi tắm và khi trẻ ngủ vào ban đêm.
  • Nếu bé bị sốt sau khi tiêm phòng với nhiệt độ cao trên 38,5 độ C, cha mẹ nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt theo hướng dẫn của bác sĩ. Lưu ý, đặc biệt với trẻ dưới ba tháng tuổi, các bậc cha mẹ cần hỏi ý kiến của bác sỹ trước khi sử dụng thuốc hạ sốt. Nếu có sự chỉ dẫn của bác sỹ, bố mẹ mới cho bé dùng thuốc.
  • Các bác sĩ nhi khoa Mỹ và châu Âu khuyên bạn không nên sử dụng aspirin cho trẻ em dưới 2 tuổi vì nguy cơ gây ra hội chứng Reye. Đối với trẻ em trên 2 tuổi thì thuốc này được cho phép và thường là sự lựa chọn đầu tiên khi bé bị sốt.
  • Trong một vài trường hợp, bạn đã áp dụng nhiều cách nhưng thân nhiệt của bé không hề giảm hoặc bé có vài biểu hiện sau: khóc dai dẳng hơn ba tiếng đồng hồ, có những biểu hiện của co giật, thân nhiệt không giảm, bạn nên gọi ngay cho bác sỹ hoặc đưa bé đến những cơ sở y tế đáng tin cậy để bé được chăm sóc khẩn cấp.

Cách giam đau cho trẻ khi tiêm phòng vắc xin

  • Tiêm phòng cho bé là việc làm thiết yếu giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh.
  • Cảm giác đau khi tiêm chủng phát triển nỗi sợ hãi của bé đối với các bác sĩ, ý tá và kim tiêm.
  • Hẳn nhiên không bậc cha mẹ nào có thể kiềm lòng khi chứng kiến bé con chịu phản ứng phụ sau tiêm chủng. Không ít mẹ trì hoãn việc cho con đi tiêm phòng theo lịch chỉ vì sợ con bị đau.

Mẹ có thể cung cấp gì để giảm đau cho trẻ khi tiêm phòng?

  • Gel hoặc kem gây tê. Mẹ có thể mua thuốc gây mê tại chỗ ở các hiệu thuốc và tư vấn ý kiến của bác sĩ trước khi thoa vào chỗ sẽ bị tiêm của trẻ. Gel/kem gây tê giúp giảm cảm giác đau khi kim xuyên vào da bé, đã được chứng minh là an toàn cho trẻ sơ sinh. Chỉ lấy một lượng gel/kem khoảng 1g thoa vào chỗ da sẽ bị tiêm của bé, thoa trước 60 phút để thuốc phát huy hiệu lực. Ngay tại chỗ da thoa thuốc, sẽ có xu hướng bị đỏ hơn bình thường, mẹ có thể yên tâm. Dị ứng do thuốc gây mê này gây ra là rất hiếm.
  • Nước đường: Hoàn toàn không gây hại gì cho trẻ sơ sinh. Pha một muỗng cà phê đường trắng với 2 muỗn cà phê nước cất hoặc nước đun sôi để nguội. Cho bé uống nước đường 1-2 phút trước khi tiêm. Dùng một ống tiêm nhỏ để bơm nước đường vào hai bên miệng của bé và ở nướu răng. Nếu sợ bé sặc hay khóc và nôn trớ, bạn có thể nhúng núm vú giả vào nước đường và cho bé bú trước, trong và sau khi tiêm phòng.

theo eva, phunutoday

tu khoa

  • tiêm chủng mở rộng gồm những mũi nào
  • chương trình tiêm chủng mở rộng ở việt nam
  • lịch tiêm chủng cho bé
  • lịch tiêm chủng cho bé 2017
  • lịch tiêm chủng mở rộng mới nhất
  • tiêm chủng mở rộng miễn phí

Bệnh ngoài da thường gặp ở trẻ sơ sinh và cách chữa trị

7 bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh, cách điều trị và cách phòng ngừa bệnh cho trẻ:  nổi mề đay, rôm sảy, hăm tả, bệnh Eczema, viêm da tiếp xúc..

7 bệnh ngoài da ở trẻ sơ sinh và cách chữa trị

Thời tiết oai bức của mùa hè rất dễ làm cho các trẻ mắc phải các chứng bệnh ngoài da như mẩn ngứa, rôm sảy, thủy đậu… Các mẹ cần phải biết cách chăm sóc phòng ngừa những bệnh ngoài da cho trẻ tốt nhất để giúp trẻ luôn có một sức khỏe khỏe mạnh.. Bớt màu xanh, tím, hạt kê li ti, nổi phát ban, tăng tiết bã nhờn, rôm sảy… là những vấn đề về da xuất hiện khá phổ biến ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, nếu mẹ không biết cách xử lý thì có thể để lại hậu quả lâu dài đến sức khỏe và thẩm mỹ của trẻ.

1/ Hiện tượng bớt màu xanh, tím

Nếu bạn nhìn thấy trên làn da của bé xuất hiện các vết bớt màu xanh hoặc màu tím, ở các vị trí như mông, cánh tay, chân… thì cũng không cần phải quá lo lắng. Vì các vết bớt này chỉ đơn thuần là sự tích tụ của các tế bào melanocyte ở lớp biểu bì của da và sẽ biến mất chỉ sau một thời gian mà không cần đến bất cứ loại thuốc men, hay kem bôi nào.

2/ Hăm tả ở trẻ sơ sinh và cách trị

Bệnh lý: Hăm là phát ban ở các khu vực da có nhiều nếp gấp và không thông thoáng như cổ và bẹn, đặc biệt là bệnh hay xảy ra ở trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi.

Triệu chứng: Các vết đỏ, sần ở các nếp gấp da gây đau, rát cho trẻ.

Nguyên nhân: Do da bị thừa ẩm và không thông thoáng. Mồ hôi hay nước dãi có thể làm tình trạng hăm trở nên nghiêm trọng hơn.

Chữa trị: Vệ sinh da bé thường xuyên, đặc biệt là các vùng da có nhiều nếp gấp. Bôi kem hoặc bột chứa kẽm ô-xít chống hăm da vào các vùng da cổ, nách và bẹn.

3 Rôm sảy ở trẻ sơ sinh và cách điều trị

Bệnh lý: Rôm (còn gọi là kê) là bệnh về da hay gặp ở trẻ sơ sinh. Các bạt rôm thường hay xảy ra ở vùng da mặt, cổ, lưng và mông.
Triệu chứng: Rôm được nhận dạng bởi các mụn nhỏ màu đỏ nổi cộm ở bề mặt da
Nguyên nhân: Rôm hoặc kê có thể xảy ra khi da bị mất khả năng làm mát do thời tiết quá nóng hay ẩm ướt.
Chữa trị: Cho trẻ mặc quần áo thoáng mát, sau đó khoảng 30 phút các bạt kê hoặc rôm sẽ giảm dần

4/ Nổi mề đay ở trẻ sơ sinh

Nổi mề đay là một bệnh ngoài da phổ biến ở cả trẻ em và người lớn. Biểu hiện của bệnh là những mảng phù màu hồng hoặc đỏ nổi cao trên da mặt, kích thước và số lượng thay đổi khác nhau có thể ở bất cứ vị trí nào trên da, khi mề đay khỏi thường không để lại dấu vết.

có thể do trẻ bị tiếp xúc với một số vật lạ qua da, qua đường hô hấp, do ăn uống, thuốc, mỹ phẩm, côn trùng, ký sinh trùng, vi khuẩn, thời tiết thay đổi … Một số trẻ bị nổi mề đay do di truyền và một số trường hợp không rõ nguyên nhân.

Bệnh ngoài da thường gặp ở trẻ sơ sinh và cách chữa trị

Để điều trị hiệu quả chứng mề đay cho trẻ trước hết phải tìm ra được căn nguyên gây bệnh. Tuỳ vào mức độ và nguyên nhân gây ra, mà bác sỹ điều trị bằng thuốc nam hoặc thuốc tây. Nếu bệnh nặng hoặc xuất hiện thường xuyên, người bệnh phải đi khám ở các cơ sở y tế để có hướng xử trí tốt nhất.

4/ Bệnh Eczema ở trẻ sơ sinh

Bệnh lý: Eczema thường xuất hiện ở trẻ sơ sinh tầm 3 đến 4 tháng tuổi. 20% trẻ sơ sinh gặp bệnh này với các đám phát ban gây ngứa và khó chịu.

Triệu chứng: Ở mức nhẹ, eczema làm da khô và gây các vết loang trên trên da. Ở mức nặng hơn, chúng chuyển sang màu đỏ, có mủ và đóng vảy.

Nguyên nhân: Do gen di truyền. Ngoài ra, thời tiết nóng hoặc quá lạnh, xà phòng, đặc biệt là quần áo len có thể là tác nhân gây ra chứng bệnh này.
Chữa trị: Vệ sinh da trẻ nhẹ nhàng với chất tẩy rửa không mùi dành riêng cho trẻ sơ sinh. Ngoài ra, các mẹ có thể mua thuốc mỡ chứa xteoit có chỉ định của bác sĩ để bôi lên vùng da bị eczema của bé để giảm sưng tấy và nhiễm khuẩn.

5/ Viêm da tiếp xúc ở trẻ sơ sinh

Bệnh lý: Viêm da tiếp xúc là một loại bệnh xảy ra ở trẻ sơ sinh với da nhạy cảm khi tiếp xúc với xà phòng, chất tẩy rửa hay các loại cây có lông hay răng cưa sắc nhọn.

Triệu chứng: Các vết đỏ, mẩn ngứa tại vùng da tiếp xúc với nguồn gây dị ứng.
Nguyên nhân: Nếu trẻ bị mẩn ngứa toàn thân, nguyên nhân có thể do trẻ mặc quần áo vẫn còn chất tẩy rửa mạnh trên vải. Nếu trẻ bị mẩn ngứa ở tay hay phần ngực, nguyên nhân có thể do trẻ mặc áo bẩn do dãi hoặc đồ ăn, nước uống vương ra. Đối với những trẻ có da cực kỳ nhạy cảm, giẫm chân lên cỏ hay thảm trải nhà cũng có thể khiến trẻ bị viêm da do tiếp xúc ở chân.

Chữa trị: Nếu vùng da bị viêm nhiễm hay dị ứng của trẻ khô, bạn nên làm ẩm da bằng các loại thuốc mỡ kê theo đơn dành riêng cho trẻ sơ sinh. Nếu vùng da đó bị ngứa, rát, hãy hỏi bác sĩ về các loại kem chứa hyđrocotison hoặc thuốc kháng histamine để bôi cho bé.

6/ Cách trị chàm sữa (lác sữa)

Hiện tượng chàm sữa thường xuất hiện phổ biến với những trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên, ở các vị trí như má, mặt, hoặc cũng có thể là tay chân, ngực… Chàm sữa lúc mới xuất hiện chỉ là những mẩn đỏ có kích thước nhỏ, sau đó là mụn nước, nếu bệnh chuyển nặng thì những vết mẩn đỏ này sẽ rịn nước, đóng mày và tróc vảy.

Đối phó với vấn đề chàm sữa ở trẻ nhỏ, mẹ cần kết hợp việc giữ vệ sinh cho làn da của bé cũng như đưa bé đi khám bác sĩ chuyên khoa. Tuyệt đối không nên tự ý mua thuốc uống, hoặc kem bôi cho trẻ khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

7/ Da bé xuất hiện những hạt kê nhỏ li ti

Những hạt kê này có biểu hiện là các hạt màu trắng đục nằm ở dưới da, hoặc tạo thành chấm trắng nổi lên trên các vùng da ở mũi, trán, hoặc gò má… Nguyên nhân xuất hiện những hạt kê này là do bã nhờn bị ứ đọng lại dưới da và hoàn toàn không nguy hiểm gì đến sức khỏe của trẻ, và sẽ tự biến mất sau vài tuần. Để tránh làm làn da của bé bị ửng đỏ, bố mẹ nên chú ý khi tắm rửa cho bé, nên dùng khăn bông mềm lau rửa nhẹ nhàng thay vì kỳ mạng, hay cọ xát làm da của bé bị trầy xước

Lưu ý khi sử dụng thuốc ngoài da cho trẻ sơ sinh

Khi dùng thuốc, phải xem kỹ hướng dẫn để biết phạm vi sử dụng, tác dụng phụ và có chống chỉ định đối với trẻ hay không.

Đã xảy ra trường hợp trẻ sơ sinh bị ngộ độc thần kinh do dùng xà bông chứa hexaclorophen (có tên Phisohex) gội đầu, hexaclorophen thấm qua da vào hệ thần kinh của trẻ và gây độc. Đối với trẻ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, nhiều cơ quan chưa phát triển hoàn chỉnh so với người lớn nên việc dùng thuốc ngoài da vẫn phải hết sức thận trọng, dùng không đúng hậu quả đáng tiếc chắc chắn xảy ra.

Lời khuyên của thầy thuốc

Dù là dạng thuốc dùng ngoài da cũng phải hết sức thận trọng trong sử dụng đối với trẻ con. Khi dùng thuốc, phải xem kỹ hướng dẫn để biết phạm vi sử dụng, tác dụng phụ và có chống chỉ định đối với trẻ hay không. Nên lưu ý, nhiều bệnh ngoài da muốn điều trị hiệu quả, cả người lớn và trẻ con, muốn điều trị có hiệu quả, tốt nhất là đến bác sĩ chuyên khoa da liễu để được khám và chỉ định đúng thuốc. Không vì đó là thuốc bôi ngoài da mà cứ thoa bừa lên da trẻ.

Những việc đau lòng

Mới đây, hai trẻ 7 – 8 tuổi phải nhập viện tai khoa chấn thương chỉnh hình bệnh viện Nhi Đồng 2 (TP.HCM) vì nhiễm trùng nặng khớp cổ chân do người nhà trẻ đắp thuốc lá trị trẹo cổ chân. Đắp thuốc lá là một cách dùng thuốc ngoài da và điểm lại thời gian qua, đã xảy ra những vụ dùng thuốc ngoài da ngoài việc đắp thuốc nhưng lại gây tai biến trầm trọng cho trẻ.

Ngày 4/11/2011, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết có 4 trẻ dưới 1 tuổi bị ngộ độc nặng suýt nguy đến tính mạng do cha mẹ dùng thuốc bôi ngoài da gọi là “thuốc cam” bôi chữa các nốt nhiệt hoặc vết viêm ở miệng của trẻ. Xét nghiệm cho thấy mẫu thuốc cam chứa hàm lượng chì lên đến 10%. Sau đó không lâu, Bệnh viện Nhi Đồng 2 thông báo trường hợp đau lòng là một trẻ hai tháng tuổi bị hoại tử đầu ngón tay phải phẫu thuật cắt bỏ phần hư chỉ vì người thân mua kem chứa thuốc chống viêm glucocorticoid thoa mụn bóng nước trên da của trẻ

Các sự việc đau lòng xảy ra chỉ vì nhiều người cứ tưởng thuốc bôi ngoài da là loại chẳng hại gì, dùng sao cũng được. Nhưng đối với trẻ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, nhiều cơ quan chưa phát triển hoàn chỉnh so với người lớn nên việc dùng thuốc ngoài da vẫn phải hết sức thận trọng. Do da của trẻ còn non nớt, dễ hấp thu dược chất vào máu, nên việc dùng thuốc ngoài da không thể xem thường, có nhiều thuốc bôi tuyệt đối không dùng. Còn đắp thuốc lá cũng là cách làm da của trẻ bị vi khuẩn có từ thuốc đắp xâm nhiễm da gây nhiễm trùng.

Những thuốc dùng ngoài da gây ngộ độc cho trẻ

Xin nêu một số thuốc dùng ngoài da đã gây ngộ độc cho trẻ, đặc biệt trẻ sơ sinh, như sau:

Trước đây khá lâu, đã xảy ra trường hợp trẻ sơ sinh bị ngộ độc thần kinh do dùng xà bông chứa hexaclorophen (có tên Phisohex) gội đầu, hexaclorophen thấm qua da vào hệ thần kinh của trẻ và gây độc. Hoặc đầu năm 2009, một nghiên cứu ở Mỹ đã báo cáo nhiều trường hợp trẻ bị ngộ độc do được bôi vùng da ở mũi dầu gió có chứa tinh dầu bạc hà (menthol), tinh dầu long não (camphor) và methyl salicylat bị kích ứng mạnh làm ngưng hô hấp. Hoặc ở TP.HCM, cách nay khá lâu đã xảy ra một số trường hợp trẻ sơ sinh bị ngộ độc do bôi phấn rơm (bột rắc) có chứa warfarin (chất tạo mùi thơm nhưng đồng thời có tác dụng gây xuất huyết). Trước đây cũng xảy ra trường hợp khó tin là có bậc cha mẹ đã dùng mẹ đã dùng thuốc súng bôi lên da trẻ để trị ghẻ ngứa với hậu quả chắc chắn xảy ra là trẻ bị ngộ độc.

Các trường hợp nêu trên cho thấy, tuyệt đối không được dùng dầu gió cho trẻ sơ sinh, nhất là không bôi lên mũi trẻ (các bà mẹ sau khi sinh tránh dùng dầu gió, loại dầu dùng được là dầu bạch đàn còn gọi là dầu khuynh diệp, dầu tràm). Còn xà bông, phấn rơm dùng cho trẻ cũng phải thật thận trọng trong chọn lựa sử dụng.

Ở đây, xin được nhấn mạnh về việc sử dụng thuốc bôi ngoài da dạng kem thuốc (crème) hoặc thuốc mỡ (pommade) có chứa dược chất glucocorticoid (gọi tắt corticoid). Một số biệt dược có thể kể: Cortibion, Celestoderme, Synalar, Halog, Hydrocortisone, Flucinar, Topsyne, Betneval… và còn cả chục tên biệt dược khác. Nên lưu ý rằng các loại corticoid nếu bôi lâu ngày trên da sẽ làm teo da, rạn da, da dễ bị nhiễm trùng do mất sự đề kháng. Nếu bôi lên da mặt lâu ngày, da mặt mịn màng đâu chẳng thấy mà sẽ thấy bị trứng cá đỏ, phát mụn li ti khắp mặt. Không những thế, thuốc có thể thấm qua da vào máu gây tác dụng toàn thân (có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm). Các cô gái trước tuổi dậy thì nếu bôi lên da diện rộng, lâu ngày bị rối loạn sự phát triển hệ lông. Cũng do corticoid có thể thấm qua da vào máu mà có chống chỉ định (tức không được dùng) ở trẻ sơ sinh, nhũ nhi. Bôi ngoài da ở trẻ, thuốc chứa corticoid sẽ làm giảm sức đề kháng ở nơi bôi làm bùng phát hiện tượng nhiễm khuẩn (trường hợp bị hoại tử đầu ngón tay nêu trên là do vi khuẩn gây hoại tử nhờ corticoid có điều kiện phát triển).

Một loại thuốc bôi ngoài da khác cũng không được dùng cho trẻ sơ sinh là dung dịch chứa iod có tên povidon-iod (Betadine) dùng ngoài da sát trùng. Dùng ở trẻ còn quá nhỏ tuổi mà lại dùng thường xuyên, iod sẽ thấm qua da vào máu gây rối loạn hoạt động tuyến giáp của trẻ.

Điều cũng cần lưu ý là các bậc bố mẹ không nên nghe lời đồn đại cho trẻ dùng thuốc, kể cả thuốc bôi ngoài da có nguồn gốc không thật rõ ràng (thuốc cam kể trên thuộc loại này). Chỉ nên mua thuốc tại nhà thuốc, nếu cần nên đưa trẻ đến khám ở phòng khám của bác sĩ để được chỉ định thuốc dùng an toàn và hiệu quả.

Theo suckhoedoisong, eva

tu khoa

  • cac benh ngoai da thuong gap o tre so sinh
  • tre so sinh thuong bi benh gi
  • cach chua benh ngoai da tre so sinh

Những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè và cách trị bệnh

6 bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè và cách phòng bênh hiệu quả mẹ bỉm sữa cần biết: bệnh rôm sảy, tiêu chảy, tay chân miệng, sốt xuất huyết, viêm màng não, bệnh sởi vào mùa hè..

  • Chồng hơn vợ bao nhiêu tuổi là vừa để kết hôn?
  • Bài tập yoga cho bà bầu 3 tháng cuối dễ sinh thường

Chế độ dinh dưỡng cho trẻ vào mùa hè

Thời tiết nóng nực trong mùa hè khiến bé ra nhiều mồ hôi, cơ thể mất nước, những vitamin trong cơ thể bé cũng tiêu hao khá nhanh khiến bé dễ bị cảm, mệt và suy giảm miễn dịch. Điều này khiến bé không những có cảm giác ăn không ngon miệng mà còn mất cảm giác thèm ăn. Bên cạnh đó, thời tiết oi nóng khiến bé thích thú với việc uống nước lạnh hay các đồ ăn lạnh (như kem…) mà không biết rằng việc làm này ảnh hưởng trực tiếp đến việc hấp thụ bữa ăn ngay sau đó, về lâu dài sẽ gây nên chứng biếng ăn. Vì vậy, việc quan tâm đến chế độ ăn uống của bé vào mùa hè trở nên vô cùng quan trọng. Biolife xin chia sẻ với các mẹ chế độ dinh dưỡng khoa học giúp con hứng thú với ăn uống trong mùa hè nhé!

Cho bé uống lượng nước hợp lý, không uống nước đá và ăn đồ lạnh

  •  Để tính toán lượng nước hợp lý, cha mẹ có thể sử dụng công thức: Lượng nước cho cơ thể mỗi ngày = 100ml nước x số cân nặng của bé
  • Các mẹ lưu ý là lượng nước này được tính bao gồm cả nước trong đồ uống và thực phẩm bé ăn hàng ngày. Lượng nước cần tăng lên trong các trường hợp bé ra nhiều mồ hôi, bé chơi thể dục thể thao. Các mẹ chỉ nên cho bé uống nước lọc hoặc nước hoa quả, không uống nước đá, nước lạnh khiến bé dễ bị viêm họng. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, uống nhiều đồ uống lạnh và kem sẽ khiến nồng độ glucose tăng cao, có thể gây ảnh hưởng tới chế độ ăn uống bình thường của trẻ.

Bổ sung vitamin tự nhiên

Đặc điểm của trẻ là luôn luôn vận động. Điều này khiến cơ thể bé tiết ra khá nhiều mồ hôi vào mùa hè nóng bức. Khi mồ hôi ở cơ thể bé tiết ra, một hàm lượng nhất định các chất dinh dưỡng cũng bị hao hụt, trong đó có vitamin (đặc biệt là các vitamin B1, B2, B6, C và PP). Hậu quả của thiếu vitamin là hệ miễn dịch cơ thể bé sẽ suy yếu, kéo theo đó là chứng biếng ăn. Vì vậy, để bổ sung vitamin tự nhiên tốt nhất cho con, các mẹ nên chú trọng cho bé ăn hoa quả tươi mỗi ngày.Trái cây là 1 nguồn cung cấp khá nhiều vitamin, chất xơ và dưỡng chất, giúp trẻ tăng cường hệ miễn dịch, phòng chống được những bệnh mùa hè.

Những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè và cách trị bệnh

  • Các loại quả như dưa hấu, dâu tây, bơ, đu đủ hoặc dứa… rất phổ biến trong mùa hè đặc biệt tốt cho sức khỏe của trẻ, có thể bổ sung vào chế độ ăn uống mỗi ngày.
  • Ngoài ra mẹ cần bổ sung vitamin A từ các loại củ quả như: đu đủ, cà rốt, khoai lang, bí đỏ,… để bé không bị khô da và thiếu nước, tránh táo bón.

Thực đơn phong phú

  • Các bé cũng giống như người lớn, nếu phải ăn mãi một vài món sẽ nảy sinh tâm lý chán ăn, dần dần dẫn đến biếng ăn. Vì vậy, thay đổi thực đơn thường xuyên cũng là một cách kích thích cảm giác ngon miệng ở bé, giúp bé ăn uống được nhiều hơn.
  • Các mẹ nên tăng cường cho bé ăn các thức ăn trong nhóm thực phẩm có tính giải nhiệt (rau bí, rau rền… ), bổ sung bữa ăn bằng các bữa ăn phụ bổ mát như: chè hạt sen, sữa, sữa chua… Ngoài ra, 1 đến 2 hũ sữa chua mỗi ngày sẽ giúp tiêu hóa tốt, kèm theo việc duy trì 400-500ml sữa hàng ngày (có thể uống sữa tươi hay sữa bột nguyên kem) để đảm bảo năng lượng vận động đầy đủ cho bé.
  • Lúc chế biến thức ăn vào mùa nóng các mẹ nên giảm lượng chất béo, hạn chế nấu những món xào rán, thay vào đó là những món luộc và canh rau.

6 bệnh thường gặp trẻ sơ sinh mùa hè và cách phòng tránh

Trong thời gian từ lúc sinh ra cho tới khi bé tròn 1 năm tuổi thì các bà mẹ nên chia ra làm 2 giai đoạn chính là giai đoạn trẻ dưới 6 tháng tuổi và giai đoạn thứ hai là trẻ từ 6 tháng đến 12 tháng. Mỗi giai đoạn có một chế độ dinh dưỡng chăm sóc trẻ khác nhau nên các mẹ cần chia ra để đảm bảo chế độ dinh dưỡng của trẻ được hợp lí, cân đối.
rong mùa hè các trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh thường mắc 6 bệnh gồm : Bệnh rôm sảy ở trẻ , bệnh tiêu chảy , bệnh chân tay miệng , bệnh sốt xuất huyết , bệnh viên màng não , và bệnh sởi . Ngoài ra còn rất nhiều trẻ bị say nắng và ngộ độc thực phẩm

1. Bệnh rôm sảy

Dưới đây là nguyên nhân và cách phòng tránh bệnh cho trẻ và trẻ sơ sinh trong mùa hè các ông bố bà mẹ xem qua .
Bệnh rôm sảy ở trẻ sơ sinh trong mùa hè :

Nguyên nhân

Do thời tiết nóng lực , gây nên hiện tượng nổi mụn nhọt , rôm sảy và các mẩn ngứa đỏ ở trẻ nhỏ và các trẻ sơ sinh rất nhiều . Trong khi trẻ không được chăm sóc tốt đặc biệt là vấn đề vệ sinh ngoài da kém như việc tắm trẻ tại nhà , rôm sảy sẽ phát triển thành mụn mủ có khi còn thành nhọt, có nguy cơ bị viêm da mãn tính, nặng hơn còn tiến triển thành viêm cầu thận cấp rất nguy hiểm.

Cách phòng tránh

  • – Bạn thường xuyên tắm bé tại nhà và vệ sinh cho bé  . Bạn dùng các loại lá như rau diếp cá  , lá kinh giới để tắm cho bé trong mùa hè nóng lực vừa phòng tránh cũng như chữa cho trẻ khỏi bị rôm sảy .
  • – Đưa trẻ vào nơi thoáng mát, lau khô mồ hôi, tắm rửa hoặc ít nhất cũng thay quần áo khác sạch sẽ hơn, cho trẻ uống nước.
  • – Không bôi phấn rôm trên da trẻ vì phấn rôm sẽ làm bít tắt đường thoát mồ dẫn đến ứ đọng mồ hôi tạo ra nhiều rôm hơn.

2. Bệnh tiêu chảy ở trẻ trong mùa hè

+ Nguyên nhân

  • – Bệnh xuất hiện quanh năm, nhưng xảy ra nhiều nhất vào mùa hè vì ruồi nhặng phát triển, nguồn nước bị ô nhiễm, ăn hoa quả sống rửa không sạch. Nếu thấy các triệu chứng nổi bật như: Số lần đi đại tiện có thể ít (3-5 lần/ngày) hay nhiều (vài chục lần/ngày); Đau bụng (từng cơn hay liên tục, mót rặn hoặc đau quanh hậu môn); Buồn nôn hay nôn.
  • – Hoặc có thể do trẻ sơ sinh rối loạn tiêu hóa hoặc nhiễm khuẩn đường ruột, kém hấp thu dưỡng chất, bị dị ứng thức ăn, dị ứng với sữa hoặc bà mẹ sử dụng quá nhiều thức ăn hoặc thuốc có tính chất nhuận tràng trong giai đoạn cho trẻ bú,…

Cách phòng tránh

  • Với trẻ sơ sinh đang bú mẹ, không ăn thêm thức ăn nào khác, cách chăm sóc trẻ sơ sinh  đúng cách mà một ngày đi 3-5 lần, phân đôi khi có nước, phân hoa cà, hoa cải…, nếu trẻ không sốt, bú, ngủ bình thường, thì không có gì đáng lo, đây chỉ là hiện tượng sinh lý bình thường ở trẻ bú mẹ.cho trẻ bú ít nhất 6 tháng để đảm bảo sức khỏe và vệ sinh cho bé
  • thường xuyên tắm cho bé và vệ sinh cho bé hàng ngày .
  • Nếu trẻ có dấu hiệu mắc bệnh tiêu chảy bạn hãy mang đến ngay cơ sở y tế hoặc các bệnh viện để các bác sĩ tư vấn và chữa trị .

3. Bệnh chân tay miệng ở trẻ sơ sinh

Nguyên nhân

Do thời tiết nóng lực , gây đau họng , sổ mũi đó là triệu chứng bắt đầu xuất hiện sau khi trẻ bị nhiễm virus từ 3- 5 ngày . Bệnh chủ yếu xảy ra ở trẻ em, lây rất nhanh, dễ lan thành dịch làm nhiều người mắc. Nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời bệnh rất dễ biến chứng thành viêm não dẫn đến tử vong ở trẻ .

Cách phòng tránh

  • hường xuyên vệ sinh tắm cho trẻ sơ sinh và cách trẻ hàng ngày vệ sinh sạch sẽ cho trẻ .
  • Hiện tại chưa có vacxin để để tiêm phòng cho trẻ nên các biện pháp phòng ngừa . Nếu phát hiện trẻ mắc bệnh chân tay miệng hãy mang trẻ đến các bệnh viện gần nhất để kiểm tra và điều trị cho trẻ .

4. Nguyên nhân và cách phòng bệnh sốt xuất huyết ở trẻ

Nguyên nhân

  • – Do muỗi đốt mang virut bệnh sốt xuất huyết gây ra  .
  • – Dấu hiệu đầu tiên là trẻ bị sốt trong 7 ngày trở lại. Trẻ không ho, không sổ mũi, không tiêu chảy.
  • – Trên người nổi những nốt xuất huyết, thường là ở cánh tay, cẳng chân. Các nốt này tròn, nhỏ như vết muỗi cắn nhưng khác ở chỗ khi căng ra những điểm này không biến mất.
  • – Trẻ có thể đau bụng ở hạ sườn phải do gan to lên.
  • – Chảy máu cam, nôn hoặc đi ngoài ra máu (đi ngoài phân đen).
  • – Nặng hơn trẻ có thể bị truỵ tim mạch (sốc): tay chân lạnh, người lừ đừ, kêu mệt. Triệu chứng này thường xuất hiện vào ngày thứ ba đến ngày thứ năm của đợt sốt.

Cách phòng tránh

  • Bạn thường xuyên tắm cho trẻ và vệ sinh thân thể cho trẻ .
  • Khi ngủ bạn mắc màn cẩn thận không cho muỗi bay vào  và vệ sinh giường của trẻ thường xuyên .
  • Nếu trẻ mắc bệnh gia đình cần mang trẻ đến các trạm y tế hoặc bệnh viện gần nhất để kiểm tra . hoặc bạn cũng có thể gọi dịch vụ y tế tại nhà đến kiểm tra có thể được truyền nước tại nhà nếu cần sẽ chuyển đến bệnh viện sau. xem tình trạng của bé như thế nào .

5. Bệnh viên màng não

Nguyên nhân

Do thời tiết nóng lực gây nên và do trẻ mắc bệnh chân tay miệng biến chứng thành bệnh viên màng não ở trẻ .

Cách phòng tránh

  • Các ông bố bà mẹ cần vệ sinh như tắm cho bé và chăm sóc bé thật tốt . Tránh tình trạng trẻ mắc bệnh chân tay miêng .
  • Nếu trẻ có những dấu hiệu của bệnh viên màng não hay mang trẻ đến bệnh viện để kịp thời chữa trị .

6. Bệnh sởi ở trẻ trong mùa hè

Nguyên Nhân

  • Bệnh sởi ở trẻ là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút sởi gây nên . Bệnh lây từ người sang người chủ yếu qua đường hô hấp .
  • Các triệu chứng thường gặp của bệnh sởi là: có sốt, phát ban và kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu sau: ho, chảy mũi, đau mắt đỏ, nổi hạch (cổ, chẩm, sau tai), sưng đau khớp. Sau mắc sởi, do sức đề kháng của cơ thể suy giảm, bệnh nhân dễ bị biến chứng nếu không được điều trị kịp thời như: mù lòa, tiêu chảy cấp, viêm phổi, viêm não, có thể dẫn đến tàn phế, tử vong đặc biệt ở trẻ nhỏ, trẻ suy dinh dưỡng, mắc HIV/AIDS hoặc các bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh. Đối với phụ nữ mang thai, mắc sởi khi mang thai có thể gây ra xảy thai, đẻ non.

Cách phòng tránh

  • Bạn hãy đưa trẻ đi tiêm phòng bệnh sởi  theo đúng lịch tiêm phòng vắc xin sởi .
  • Ngoài ra bạn thường xuyên vệ sinh thân thể cho các trẻ nhỏ để tránh trẻ mắc 1 số bệnh về đường hô hấp .

Ngoài 6 bệnh thường gặp ở trẻ trong mùa hè còn 1 số bệnh khác như ngộc độc thực phẩm và say nắng ở trẻ mà các bậc phụ huy cần chú ý đến trẻ .Để trẻ có 1 sức khỏe lành mạnh trong mùa hè này .

TIPS Chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách vào mùa hè ĐÚNG CÁCH

Mùa nóng, thân nhiệt của bé cao, mồ hôi toát ra nhiều nên các mẹ cần vệ sinh da, tắm rửa cho bé đúng cách. Cách chăm sóc trẻ sơ sinh vào mùa nóng là hãy để cho da bé được thoáng mát nhưng không quá hở.

Mỗi ngày tắm bé 1 lần

  • Nhiệt độ nước tắm trong khoảng 37-38 độ C. Các mẹ có thể dùng cùi chỏ để kiểm tra nước tắm cho bé. Khi tắm bé cần tắm nhanh. Dùng các loại sữa tắm, dầu gội êm dịu để làm sạch cho bé. Không tắm quá nhiều lần, quá lâu vì bé dễ bị cảm lạnh. Da bé sẽ mất đi lớp bảo vệ tự nhiên. Sau khi tắm cần nhanh chóng lau khô, vệ sinh rốn cho bé.
  • Rốn sau khi sinh sẽ khô và tự rụng trong khoảng 7-10 ngày, có bé chỉ 4-5 ngày. Vào mùa hè, các bệnh về da tăng nhanh. Chính vì vậy, người mẹ cần vệ sinh rốn đúng cách cho bé. Giữ cho rốn luôn sạch. Nếu xung quanh rốn xuất hiện các đốm sưng đỏ, chất nhờn chảy ra thì đưa bé đến bệnh viện càng sớm càng tốt.

Cách vệ sinh rốn

  • Trước khi vệ sinh rốn bé thì người lớn cần rửa sạch tay, diệt khuẩn. Dùng bông gòn/ gạc sạch tẩm cồn 70 độ lau xung quanh rốn bé. Lau qua 1 lần thì thay bằng miếng bông gòn khác. Sau đó dùng gạc băng lên rốn, dùng băng thun cố định miếng gạc.
    Mặc
  • Bé sơ sinh cần giữ ấm nhưng không nên giữ ấm quá mức. Khi bé đổ mồ hôi thì mẹ nên dùng khăn nhúng vào nước ấm và lau mình cho bé. Mồ hôi tiết ra nhiều, lỗ chân lông bị tắt thì bé sẽ bị cảm lạnh.
  • Khi trời nóng, nên mặc áo quần dài tay cho bé. Vẫn mang bao tay, bao chân và giữ ấm thóp, ngực. Quấn thêm một lớp tã để bé đỡ bị giật mình. Nếu thấy bé đổ mồ hôi trán, đầu nhiều thì không nên đội mũ mà hãy để thoáng hoặc che chắn bằng khăn mỏng. Đây chính là cách chăm sóc trẻ sơ sinh tốt nhất.

Không nên quấn bé với nhiều lớp khăn, áo len. Làm như vậy người lớn còn chịu không nổi huống gì trẻ sơ sinh.

Từ khóa

  • benh hay gap o tre so sinh
  • tre so sinh di ngoai nhieu lan trong ngay co sao khong
  • trẻ sơ sinh đi ngoài như thế nào là tốt
  • trẻ 2 tháng tuổi đi ngoài mấy lần một ngày

Bệnh viêm mũi họng ở trẻ sơ sinh: Nguyên nhân và điều trị

Viêm mũi họng ở trẻ có những dấu hiệu như sốt và kèm theo bứt rứt, quấy khóc, kém ăn đôi khi còn bị nôn mửa, tiêu chảy kéo dài 2-3 ngày, nếu con chưa đủ 6 tháng tuổi thì mẹ nên lưu ý về thuốc trị sổ mũi cho trẻ sơ sinh..

  • Bệnh viêm da mủ ở trẻ sơ sinh & cách điều trị
  • Bé bao nhiêu tháng thì ăn được váng sữa là tốt nhất?

Nguyên nhân gây viêm mũi họng ở trẻ sơ sinh

Bệnh viêm mũi họng ở trẻ em có đặc điểm là hay tái phát, những lần tái phát có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm nhất là ở trẻ sơ sinh và trẻ còn bú mẹ.

  • Trên 80% trẻ mắc bệnh chủ yếu là do nhiễm trùng một số loại virus, vi khuẩn như Adeno virus, Rhino virus, liên cầu khuẩn.
  • Các yếu tố thuận lợi làm bệnh phát triển như chuyển mùa, mùa đông xuân, thời tiết lạnh ẩm, điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo, khói bụi, nhà không kín bị gió lùa sẽ khiến virus dễ dàng phát triển, xâm nhập khiến trẻ dễ bị mắc bệnh hơn.Với trẻ còi xương, suy dinh dưỡng, trẻ đẻ non, cơ địa dị ứng hoặc đang mắc bệnh mạn tính hoặc bệnh làm s
  • Suy giảm hệ thống miễn dịch, như sởi, cúm… cũng là những yếu tố thuận lợi cho viêm mũi họng tái phát.
  • Chu kỳ phát triển bệnh ở trẻ dưới 3 tuổi có thể viêm mũi 4 – 6 lần trong một năm, tần số có thể tăng lên trong thời kỳ bé đi nhà trẻ, mẫu giáo, sau đó giảm dần.
  • Chúng ta không nên quá lo lắng khi thấy con đi nhà trẻ vài ngày lại phải nghỉ vài ngày vì ho, sổ mũi. Tuy nhiên nếu tái phát quá nhiều có thể dẫn đến các biến chứng như viêm màng não, viêm tai…
  • Việc phòng tránh viêm mũi họng tái diễn cho trẻ có thể thực hiện nếu người chăm sóc trẻ được tư vấn đúng các nguyên nhân và yếu tố thuận lợi dẫn đến việc trẻ bị bệnh để họ biết và làm theo hướng dẫn.

Dấu hiệu viêm mũi ở trẻ em

Khi thấy trẻ có những dấu hiệu như sốt và kèm theo bứt rứt, quấy khóc, kém ăn đôi khi còn bị nôn mửa, tiêu chảy kéo dài 2-3 ngày. Trẻ bị ngạt mũi kèm theo chảy nước mũi trong hoặc nhầy mủ, một số trẻ bị ho thì đây có thể là dấu hiệu viêm mũi ở trẻ em.

Bệnh viêm mũi họng ở trẻ sơ sinh: Nguyên nhân và điều trị

Mẹ nên áp dụng các bài thuốc trị sổ mũi trẻ em có nguyên liệu thiên nhiên trước. Nếu con chưa đủ 6 tháng tuổi thì mẹ nên lưu ý về thuốc trị sổ mũi cho trẻ sơ sinh. Khi các triệu chứng trên kéo dài trên 7 ngày, mẹ cần đến gặp bác sĩ để được tư vấn. Vì lúc đó tình trạng bệnh của trẻ đã nghiêm trọng hơn và cần phải dùng kháng sinh để điều trị.

Viêm mũi thường xảy ra ở trẻ nhỏ khoảng độ tuổi từ 6 tháng tuổi tới 7-8 tháng tuổi. Nguyên nhân là do hệ miễn dịch còn kém, khi trẻ hít không khí từ ngoài vào đến phổi, các tác nhân gây bệnh dễ đi vào theo. Ở trẻ nhỏ, viêm mũi chủ yếu là do viêm niêm mạc của hốc mũi và vùng họng mũi. Viêm mũi gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm phổi, viêm tai, viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp…

Các biến chứng có thể gây nguy hiểm

Trẻ sốt cao có thể dẫn đến co giật, đặc biệt thường gặp nhất là viêm tai giữa, trẻ sốt cao, trẻ lớn sẽ kêu đau trong tai, nghe kém, trẻ nhỏ hay dụi vào tai, nặng hơn là chảy mủ tai, viêm xoang hàm cấp ở trẻ lớn và viêm thanh quản cấp (tiếng khóc bị khàn, trẻ khó thở), viêm phế quản, viêm phổi (trẻ thở mệt, khò khè).

Hướng dẫn chữa trị bệnh viêm mũi họng ở trẻ em

Viêm sổ mũi là bệnh hay gặp ở trẻ, nhất là trẻ dưới 6 tuổi (chiếm 75 – 80% số trẻ độ tuổi này), đặc biệt khi có điều kiện thuận lợi như thay đổi thời tiết, trời đang nóng chuyển sang lạnh đột ngột…

Viêm sổ mũi được chia làm hai loại chính là viêm sổ mũi xuất tiết và viêm sổ mũi do vi khuẩn (viêm mũi mủ). Viêm sổ mũi có thể biểu hiện cấp hay mạn tính. Việc điều trị sổ mũi tùy thuộc vào thể viêm sổ mũi mắc phải của trẻ cũng như giai đoạn bệnh.

Trị trẻ bị sổ mũi cấp xuất tiết

Nguyên nhân chính là do virut. Viêm sổ mũi cấp cũng có thể gây thành dịch. Biểu hiện bằng sốt, hắt hơi, chảy nước mũi trong, ngạt tắc mũi nên trẻ nhỏ khó bú. Những trường hợp này được xử trí theo phác đồ sau:

Toàn thân:

Sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ nếu sốt trên 38,5oC (nhóm chứa paracetamol hiện vẫn được coi là nhóm hạ sốt an toàn nhất).

Thuốc chống xuất tiết: Do virut được coi là một kháng nguyên tác động lên mũi gây viêm nên người ta dùng kháng histamin H1 (có tác dụng phong bế các thụ thể H1 ở ngoại biên, ức chế phóng thích histamin từ dưỡng bào), với các thế hệ khác nhau như chlorpheniramin maleat, loratidin, fexofenadin hydoclorid, desloratidin… Thuốc kháng histamin thường được dùng kéo dài 2 tuần mỗi đợt điều trị.

Thuốc tăng cường chức năng miễn dịch hiện rất hay được sử dụng đi kèm là thuốc chứa thymomodulin, làm tăng cường miễn dịch do kích thích sự phát triển của tế bào Lympho T và Lympho B, đồng thời kích thích đại thực bào tấn công tác nhân gây bệnh, tăng hoạt động tổng hợp kháng thể từ tế bào B và hoạt hóa bạch cầu T làm tan rã các tác nhân gây bệnh ký sinh trong tế bào của cơ thể.

Tại chỗ:

Thuốc chống xung huyết, giảm phù nề niêm mạc mũi: Thuốc thông dụng hiện nay là xylomethazolin 0,05%, thuốc dùng được cho cả trẻ sơ sinh. Ngoài ra còn có adrénaline 0,01%, ephedrine 0,1-0,3%…

Thuốc làm săn khô niêm mạc mũi là nhóm muối bạc: argyrol. Thuốc này dễ bị phân huỷ bởi ánh sáng nên thuốc được bọc bởi một lớp giấy than chống ánh sáng và sử dụng mỗi lọ chỉ dưới 10 ngày.

Viêm sổ mũi mạn tính

Thường là viêm mũi mủ hoặc viêm mũi dị ứng, viêm mũi mạn tính thường đi kèm với viêm xoang. Thuốc sử dụng với những viêm mũi mạn tính thường là:

Toàn thân:

Kháng sinh: Có thể nuôi cấy dịch mũi làm kháng sinh đồ được coi là biện pháp tối ưu khi điều trị. Kháng sinh thường dùng trong viêm mũi mạn tính phải có phổ rộng để có thể diệt được cả vi khuẩn gram âm, gram dương và vi khuẩn kỵ khí nên hay dùng nhóm cepholosporin thế hệ III.

Thuốc chống dị ứng: Nên dùng loại có chứa micocrystalline, cellulose… chỉ định cho trẻ trên 6 tháng.

Tại chỗ:

Thuốc chống viêm có corticoid dạng nhỏ như polydexa, collydexa.. dùng dưới 7 ngày. Người ta cũng pha chế thuốc chữa mũi dạng phun sương có thể dùng kéo dài 2 năm. Tuy nhiên, phải theo dõi chặt chẽ và hiệu chỉnh liều theo sự tiến triển hoặc suy thoái của bệnh. Thuốc coricoid tại chỗ tuy chỉ có khoảng 2% hấp thu vào máu nhưng nếu không được điều trị đúng phương pháp cũng sẽ gây một số biến chứng, nhất là ở trẻ em như không kích thích vỏ thượng thận tiết hormon làm teo vỏ thượng thận, gây hội chứng biến dưỡng do tăng giữ muối, nước, ứ đọng mỡ ở một số bộ phận như mặt, tăng đường huyết… tình trạng quen thuốc do điều trị dở dang.

Thuốc corticoid dùng tại mũi với tính chất chống viêm tại chỗ ở các liều không có tác dụng toàn thân. Trẻ em từ 3-11 tuổi, sử dụng điều trị dự phòng bằng nasonex được khuyên dùng 2 – 4 tuần trước thời gian dự kiến sẽ xuất hiện viêm mũi.

Không được dùng khi có các tổn thương khu trú ở mũi vì tác dụng ức chế sự lành vết thương của corticoid. Đối với bệnh nhân vừa qua phẫu thuật mũi hay chấn thương mũi không được dùng corticoid đường mũi cho tới khi lành. Khi dùng kéo dài phải được kiểm tra định kỳ về các thay đổi có thể ở niêm mạc mũi. Nếu xuất hiện nhiễm nấm khu trú ở niêm mạc mũi họng cần ngưng điều trị. Kích ứng họng dai dẳng cũng là một chỉ định để ngưng thuốc.

Viêm mũi tuy không nguy hiểm nhưng lại rất hay gây biến chứng làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của trẻ như giảm thị lực, viêm họng, ho kéo dài, viêm thanh – khí – phế quản… Chính vì thế cần chẩn đoán và điều trị viêm mũi sớm và triệt để. Virut là một trong những nguyên nhân gây viêm mũi

Phòng bệnh viêm mũi ở trẻ em như thế nào?

  • Bệnh viêm mũi ở trẻ em thường xuất hiện lúc thời tiết giao mùa, nhiệt độ thay đổi nóng – lạnh đột ngột. Để phòng bệnh viêm mũi ở trẻ em, các mẹ cần được đảm bảo giữ ấm, tránh gió lùa trực tiếp vào cổ họng
  • Vệ sinh thường xuyên nhà cửa, đồ chơi, nơi bé ngủ. Dạy cho trẻ không được ngoáy mũi, vì như vậy dễ gây tổn thương niêm mạc mũi
  • Vệ sinh mũi thường xuyên để loại bỏ gỉ mũi, chất nhầy. Khi vệ sinh rửa mũi, các mẹ nên dùng nước ấm hoặc nước muối sinh lý. Thường xuyên vệ sinh mũi sẽ góp phần tránh các bệnh viêm nhiễm hô hấp như viêm mũi, nghẹt mũi, hắt xì, viêm xoang….
  • Khi trẻ bị viêm mũi với các triệu chứng kéo dài (trên 7 ngày) kèm theo các triệu chứng nặng hơn như đau tai, khàn tiếng, khó thở, phải kịp thời đưa trẻ tới các cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị.

Bệnh viêm mũi ở trẻ em không nguy hiểm nếu các mẹ chủ động phòng tránh cho trẻ bằng các biện pháp vệ sinh. Hạn chế đưa trẻ vào những nơi có không khí ô nhiễm, khói thuốc lá. Tránh để trẻ thay đổi thân nhiệt đột ngột. Nếu các triệu chứng của viêm mũi kéo dài trên 7 ngày có kèm theo sốt cao, phụ huynh phải kịp thời đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được khám và điều trị.

theo suckhoedoisong

tu khoa

  • benh viem mui hong o tre so sinh
  • nguyen nhan gay ra benh viem mui o tre so sinh
  • cach tri viem mui hong o tre

Những điều cần biết khi tắm cho trẻ sơ sinh

Kinh nghiệm tắm cho trẻ sơ sinh chưa rụng rốn, đã rụng rốn chuẩn: bế bé đúng cách, giữ phần đầu trẻ, không cho nước vào tai trẻ, dùng sữa tắm dành riêng cho bé, lau thật khô sau khi tắm xong, dùng phấn rôm, tinh dầu dưỡng ẩm cho da sau khi tắm.

  • Sữa tắm cho trẻ sơ sinh loại nào tốt nhất?
  • Cách tắm nước dừa cho trẻ sơ sinh đúng cách, tốt nhất

Trẻ sơ sinh bao lâu tắm 1 lần?

Việc tắm rửa, gội đầu, mẹ nên điều chỉnh tùy theo độ tuổi của bé như sau:

  • Bé dưới 3 tháng tuổi: Mẹ có thể tắm cho con khoảng 2-3 lần/tuần để giữ cơ thể con luôn sạch sẽ mà lại không bị khô da. Những ngày còn lại mẹ có thể dùng khăn bông vệ sinh cho con, đặc biệt ở các vùng khuất, da có nếp gấp như bẹn, nách, bộ phận sinh dục,… Đối với bé chưa rụng rốn, mẹ dùng tăm bông chặm nhẹ dưới rốn để thấm hết nước ứ đọng. Bé dưới 3 tháng có làn da vô cùng nhạy cảm, vì vậy mẹ chưa cần sử dụng các sản phẩm tắm gội cho con. Ngoài ra, mẹ nên cho con tắm nắng mỗi ngày để tăng cường vitamin D cho bé.
  • Bé từ 3-12 tháng tuổi: Mẹ có thể tắm cho con mỗi ngày 2 lần, vào khoảng 10 giờ sáng và 3 đến 4 giờ chiều tùy thời tiết trong ngày. Khi tắm mẹ nhớ chuẩn bị 2 thau nước ấm, một để tắm xà bông, một để tắm sạch, mẹ nhé. Từ 3 tháng trở lên, mẹ có thể cho con sử dụng một số dầu gội sữa tắm cho trẻ, kem dưỡng ẩm, chống nắng, chống côn trùng,… Tuy nhiên, trước khi sử dụng cho con mẹ nên hỏi ý kiến bác sĩ và thử kích ứng cho con trước khi sử dụng, mẹ nhé.
  • Bé từ 1-3 tuổi: Bé từ 1 đến 3 tuổi hiếu động và đổ nhiều mồ hôi hơn, mẹ có thể tắm cho con mỗi ngày, số lần tùy thuộc vào tình trạng thực tế của bé. Tuy nhiên, mẹ cũng cần lưu ý, dù con đã cứng cáp hơn nhưng da con vẫn mỏng hơn 30% so với người lớn. Thế nên mẹ cần chọn cho con các sản phẩm tắm gội phù hợp với độ tuổi, không cho con dùng chung với cả nhà.

Chuẩn bị gì trước khi tắm cho trẻ?

  • Thau tắm cho bé: Mẹ nên chọn những loại thau tắm phù hợp với độ tuổi và vóc dáng của bé để tránh trường hợp bé bị trượt. Hoặc dùng những loại thau có thiết kế đặc biệt có thể nửa tắm nửa ngồi một cách an toàn.
  • Khăn tắm: Mẹ nên chọn những loại khăn lông mềm được làm bằng sợi tự nhiên để tránh dị ứng với da bé.
  • Sữa tắm: Hiện nay có rất nhiều sữa tắm chỉ dành riêng cho trẻ sơ sinh nó tạo ít bọt, ít mùi và đặc biệt là không cay mắt.
  • Chuẩn bị sẵn khăn lau khô, quần áo, vớ chân tay, dầu khuynh diệp, phấn rôm…sau khi tắm xong có thể sử dụng ngay tránh để bé bị cảm lạnh.

Tắm cho trẻ đúng cách

  • Trước khi tắm mẹ nên lót một chiếc khăn trong thau tắm để tránh trơn trượt.
  • Pha nước theo thứ tự nóng trước lạnh sau, đổ vừa không quá đầy nước chỉ khoảng 8cm. Lưu ý nước tắm không quá lạnh cũng không quá nóng đủ ấm ở nhiệt độ 32 độ C. Mẹ có thể sử dụng nhiệt kế để đo hoặc dùng khuỷu tay để thử nước.
  • Đầu tiên rửa mặt cho bé bằng một miếng bông mềm, dùng bông lau sạch mi mắt, khóe mắt theo hướng từ trong ra ngoài.

tam-cho-tre-so-sinh

  • Khi gội đầu cho bé bạn dùng cánh tay đỡ phần đầu và vai hoặc ôm bé gọn trong cánh tay. Làm ướt tóc và cho dầu gội lên đầu bé, lưu ý nên bịt 2 tai không để nước vào. Sau khi gội xong phải lau thật khô tóc cho bé.
  • Tắm bé bằng cách ẵm bé nằm ngửa và đặt từ từ xuống chậu nước để bé làm quen, dùng một tay nâng đầu và vai bé, tay còn lại thoa sữa tắm và hớt nước sạch làm sạch nhẹ nhàng. Lưu ý không nên để bé trong nước quá lâu chỉ nên tắm trong vài phút.
  • Sau khi đã hoàn thành xong các bước, mẹ dùng khăn khô lau cơ thể bé sau đó dùng phấn rôm thoa những vùng da có nếp gấp và bôi dầu khuynh diệp lên phần ngực, mỏ ác, lưng cho bé.
  • Với những bé chưa rụng rốn, mẹ cần dùng bông gòn thấm nước lau sạch rốn, sử dụng cồn 70 độ sát trùng da quanh rốn. Sau đó băng một lớp gạc mỏng.

Lưu ý

  • Phải tắm bé trong phòng kín gió, nhiệt độ phòng khoảng 28 – 30 độ C
  • Mẹ cần cắt móng tay gọn gàng để tránh làm tổn thương da bé và phải rửa tay sạch trước khi tắm cho bé.
  • Không nên kéo dài thời gian tắm, mỗi lần chỉ nên tắm vài phút.
  • Tuyệt đối không để bé một mình khi tắm.
  • Khi bé vừa bú no không nên tắm ngay. Nên tắm trước khi bú sẽ giúp bé ngon miệng và ngủ ngon hơn.

tu khoa

  • tam cho tre so sinh bang gi la tot nhat
  • nên tắm cho trẻ sơ sinh bằng sữa tắm gì
  • sữa tắm cho trẻ sơ sinh loại nào tốt nhất
  • cách tắm cho trẻ sơ sinh chưa rụng rốn

Bé bao nhiêu tháng thì ăn được váng sữa là tốt nhất?

Trẻ từ 6 tháng trở lên thích hợp ăn váng sữa, chứa nhiều dưỡng chất: vitamin (A, E, B2, B12, C, PP, biotin, beta-carotene…), các a-xít hữu cơ. tăng cường phát triển xương, cung cấp năng lượng cho trẻ

  • Những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè và cách trị bệnh
  • Những bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi

Lợi ích váng sữa đối với sự phát triển của trẻ

Váng sữa chứa nhiều dưỡng chất giúp trẻ tăng chiều cao, hoàn thiện hệ tiêu hóa và phát triển trí tuệ toàn diện.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bà mẹ cần cho trẻ dưới 6 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn. Nhưng khi trẻ sau 6 tháng tuổi, trong độ tuổi ăn dặm, cha mẹ nên kết hợp các món ăn giàu dinh dưỡng và chất béo vào khẩu phần ăn hàng ngày để giúp trẻ cải thiện cân nặng và tăng chiều cao, phát triển trí tuệ một cách đều đặn. Theo giới chuyên gia, quy trình làm váng sữa khá phức tạp và phải cần một lượng sữa tươi rất lớn để sản xuất. Cụ thể, cứ từ 100kg sữa tươi qua quá trình dùng máy ly tâm xử lý chỉ thu về được 1,2kg váng sữa. Như vậy, để làm một hộp váng sữa 55g – gồm cả váng sữa và kem, các nhà sản xuất phải dùng đến 4,6kg sữa bò tươi nguyên chất.

Vì là phần tinh túy nhất của sữa nên váng sữa rất giàu năng lượng và giá trị dinh dưỡng. Đặc biệt, váng sữa chứa nguồn canxi rất cao. Canxi giúp trẻ tăng chiều cao, hoàn thiện hệ xương chắc khỏe trong giai đoạn đầu đời.

Vì vị thơm ngon và bổ dưỡng, giờ đây, váng sữa trở thành một món ăn quen thuộc đối với những gia đình có trẻ nhỏ. Một số trẻ đã rất thích vị béo béo, ngọt ngọt của váng sữa nên thường đòi ăn mỗi ngày.

Bé bao nhiêu tháng thì ăn được váng sữa là tốt nhất?

Váng sữa ngoài việc tác động tốt đến hệ tiêu hóa của trẻ còn chứa nhiều dưỡng chất: vitamin (A, E, B2, B12, C, PP, biotin, beta-carotene…), các a-xít hữu cơ. Thành phần khoáng chất trong váng sữa cũng phong phú từ kali, canxi cho đến clo, phốt pho, magiê, natri, sắt, kẽm, i-ốt, đồng… Những khoáng chất này đều cần thiết cho cơ thể trẻ được phát triển khỏe mạnh. Canxi có nhiều trong váng sữa tốt cho việc tăng cường và phát triển của xương. Trong váng sữa còn có nhiều protein động vật, carbonhydrat, a-xít béo, đường tự nhiên. Lượng chất béo trong một hộp váng sữa chiếm đến trên 70% tổng năng lượng mà trẻ cần.

Bé từ 6 tháng tuổi trở lên có thể ăn được váng sữa

“Quyết định khi nào cho bé ăn váng sữa là hợp lý?” – câu hỏi của hầu hết các mẹ khi muốn cho con sử dụng váng sữa. Nhiều bác sỹ và chuyên gia dinh dưỡng tại Việt Nam đều có chung một nhận định rằng nên cho bé ăn váng sữa khi bé đủ 6 tháng tuổi.

Từ tháng thứ 6 trở đi, sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu lớn nhanh của trẻ nên cần phải cho trẻ ăn bổ sung để phát triển thể chất, trí tuệ.

Bên cạnh đó, đây là giai đoạn hệ thống các cơ quan như hệ tiêu hóa, hệ thần kinh bé đang phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi cần có nguồn năng lượng để quá trình đó diễn ra tốt hơn. Chính vì vậy, việc cho bé ăn váng sữa tại thời điểm này sẽ cung cấp cho bé 70% năng lượng cần thiết đó..Một lý do nữa, tại thời điểm này, trẻ cũng đã biết điều chỉnh lưỡi tốt hơn để đưa thức ăn di chuyển trong miệng nên mẹ sẽ dễ dàng hơn trong việc cho bé ăn váng sữa.

Nếu ăn bổ sung quá muộn, trẻ không nhận đủ chất dinh dưỡng cần thiết, trẻ chậm lớn, dễ suy dinh dưỡng, khó tập ăn.

Những nguy cơ nếu mẹ cho bé ăn quá sớm

Một điều cần lưu ý đối với các mẹ, đó là không nên cho trẻ ăn váng sữa quá sớm. Bởi việc quyết định khi nào cho trẻ ăn váng sữa, cũng cần phụ thuộc vào độ tuổi và sự hấp thụ của trẻ. Trong 6 tháng đầu tiên sau khi chào đời, trẻ cần bú mẹ hoàn toàn. Do đó, nếu cho bé ăn bổ sung quá sớm, có thể dẫn đến nguy cơ trẻ giảm bú sữa mẹ, tăng nguy cơ mắc bệnh, giảm sức đề kháng, khó tiêu hóa thức ăn.

Ngoài ra, như đã nói ở trên, việc cho bé ăn váng sữa quá sớm sẽ khiến mẹ khó khăn trong việc cho bé ăn bởi bé vẫn chưa quen với những thức ăn đặc. Bên cạnh đó, việc kết hợp váng sữa với những thức ăn khác tại thời điểm này cũng là một thách thức với các mẹ.

Thời điểm nào ăn váng sữa phù hợp nhất

  • Buổi sáng: Theo như phép so sánh vui, bữa ăn sáng được ví như một vị “vua”. Nói như vậy để khẳng định rằng, việc cho bé ăn sáng đầy đủ là rất cần thiết, đảm bảo năng lượng cần thiết cho trẻ suốt cả ngày. Váng sữa cung cấp protein, vitamin và khoáng chất, chính là những chất dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ ai, tại bất kỳ độ tuổi nào. Vì thế, nếu mẹ đã biết được khi nào cho bé ăn váng sữa là hợp lý, mẹ cũng nên cho bé ăn váng sữa ngay sau khi ăn sáng mà không sợ bé bị đầy bụng hay không hấp thu được.
  • Buổi chiều: cũng là một thời điểm tốt để cho bé ăn váng sữa. Bởi sau một giấc ngủ trưa, bé thường có cảm giác đói bụng và buổi chiều cũng là khoảng thời gian bé hiếu động nhất. Cho nên, ăn váng sữa ngoài việc giúp bé không bị đói, mặt khác cung cấp nhiều năng lượng cho các hoạt động của bé hơn.
  • Buổi tối: Có nhiều mẹ vẫn muốn bổ sung dinh dưỡng cho con vào buổi tối, nên quyết định cho con ăn váng sữa. Tuy nhiên, theo lời khuyên của bác sỹ dinh dưỡng, thời gian này là thời điểm để hệ thống tiêu quá của bé nghỉ ngơi, nên nếu bé ăn váng sữa vào buổi tối sẽ khó tiêu hóa và làm bé ngủ không ngon giấc, có thể nôn ói.

Làm gì nếu bé nôn trớ khi ăn váng sữa?

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc bé bị nôn, trớ khi sử dụng váng sữa. Tuy nhiên, vẫn thường tập trung lại ở những lý do sau:

Thứ nhất Do các bà mẹ cho trẻ ăn váng sữa ngay sau khi ăn bột hay cháo. Đây là nguyên nhân khá phổ biến bởi sau khi đã tiếp nhận rất nhiều chất từ những thức ăn kể trên, bé cần có thời gian nghỉ để bộ phận tiêu hóa kịp chuyển hóa thức ăn. Trong thời điểm này, nếu cho bé ăn ngay váng sữa sẽ khiến bé không thể tiêu hoá được và buộc phải đẩy thức ăn ra ngoài qua đường miệng.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng của Delys, thời gian thích hợp để bé ăn váng sữa là sau mỗi bữa ăn chính từ 1-2 tiếng, như vậy bộ máy tiêu hóa của bé sẽ kịp chuyển hóa dinh dưỡng từ thức ăn từ trước và sẵn sàng tiếp nhận các chất dinh dưỡng bổ sung tiếp theo.

Thứ hai: Cho bé ăn quá nhiều và liên tục một loại sản phẩm trong thời gian dài. Dùng váng sữa cho trẻ mỗi ngày là rất tốt tuy nhiên, điều này sẽ gây ra tình trạng chán ăn, thậm chí sợ ăn với các bé, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của trẻ trong giai đoạn nhạy cảm này.

Thứ ba: Trộn váng sữa với những thực phẩm nhiều dinh dưỡng khác. Điều này được các chuyên gia và bác sỹ về dinh dưỡng khuyến cáo là không nên.

Hạn chế tối đa việc trộn váng sữa với những thứ khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp bất khả kháng, có thể pha váng sữa với một chút nước đun sôi để bé có thể dễ dàng tiếp nhận.

Nếu trong trường hợp áp dụng các giải pháp trên mà bé vẫn có hiện tượng nôn trớ, rất có thể do hệ tiêu hóa của bé chưa sẵn sàng tiếp nhận những thực phẩm dinh dưỡng như váng sữa, phô mai.. hãy tạm thời cho bé ngừng sử dụng váng sữa một thời gian. Khi hệ tiêu hóa của bé ổn định, hãy cho ăn lại với liều lượng vừa phải.

Từ khóa:

  • ăn váng sữa vào lúc nào trong ngày
  • cho trẻ ăn sữa chua đúng cách
  • cho bé ăn sữa chua lúc nào là tốt nhất
  • sữa chua susu cho bé
  • vang sua nao tot cho be 8 thang tuoi
  • cho trẻ ăn sữa chua đúng cách
  • sữa chua cho bé dưới 1 tuổi

Những bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi do trẻ chưa có một hệ thống miễn dịch tối ưu, nên dễ bị bệnh: nôn, ho và sốt, viêm tại, phát ban tã lót, tiêu chảy, táo bón..

  • Những bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh thiếu tháng
  • Chồng hơn vợ bao nhiêu tuổi là vừa để kết hôn?

8 cột mốc quan trọng của trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi

Ông bà ta thường nói: “3 tháng biết lẫy, 7 tháng biết bò, 9 tháng lò dò biết đi” – 3 quá trình phát triển thông thường của trẻ. Tuy nhiên, không phải đứa trẻ nào cũng tuân theo quy luật phát triển đó. Do đó nếu trẻ trì hoãn một giai đoạn phát triển quan trọng nào đó, cũng đừng lo lắng.

Tuy nhiên, hãy chú ý hơn tới những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời trẻ để chắc chắn rằng trẻ đang phát triển bình thường và đúng hướng. Sau đây là 8 mốc phát triển của trẻ mà cha mẹ cần đặc biệt lưu tâm:

1. Giao tiếp bằng mắt (6 – 8 tuần tuổi)

Khi được 6 – 8 tuần tuổi, trẻ sẽ bắt đầu giao tiếp bằng mắt. Đây là một trong những giai đoạn quan trọng đầu tiên của trẻ mà bạn cần lưu ý và là dấu ấn rất thú vị. Trẻ sẽ dùng ánh mắt để dõi theo bạn, nhìn những việc bạn làm và cuối cùng là tập trung vào bạn. Giao tiếp bằng mắt thể hiện rằng não của trẻ đang ghi nhận một gương mặt quen thuộc và nó cũng chỉ ra rằng sự phát triển về thần kinh và những kỹ năng giao tiếp của trẻ đang đi đúng hướng.

Hãy nhớ rằng một số trẻ sẽ có hoạt động giao tiếp bằng mắt muộn hơn so với bạn bè cùng lứa tuổi; vì thế bạn không nên quá lo lắng nếu trẻ chỉ bắt đầu giao tiếp bằng mắt khi được 3 tháng. Nếu đến thời điểm 3 tháng mà trẻ vẫn chưa có hoạt động giao tiếp bằng mắt bạn nên cho trẻ đi kiểm tra thị lực.

2. Mỉm cười thân thiện (8 tuần tuổi)

Lần đầu tiên khi trẻ cười với bạn, chắc hẳn đó là khoảnh khắc không thể nào quên đối với bạn. Nụ cười này không giống như nụ cười vu vơ của những em bé mới sinh khi nhìn lên trần nhà hoặc những đồ vật khác. Nụ cười thân thiện đầu tiên này là một trải nghiệm có tính tương hỗ: trẻ cười đáp lại nụ cười của bạn.

Những bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi

Nụ cười thân thiện đánh dấu mốc phát triển của bé khác lạ hơn, là một dấu hiệu cho thấy những phần khác nhau trong não của bé đang dần hoàn thiện, nó cũng chỉ ra sự phát triển về mặt tình cảm. Bạn có thể phân biệt được cảm giác buồn của trẻ khi không thấy mẹ ở bên hay niềm vui của trẻ khi nhìn thấy bạn.

Nếu bạn không nhận được một nụ cười thân thiện nào của trẻ cho đến khi 3 tháng, hãy đưa trẻ đến gặp bác sĩ bởi có thể liên quan đến vấn đề về thị lực.

3. Lẫy (2 – 3 tháng tuổi)

Khi trẻ được 2 hoặc 3 tháng, trẻ sẽ bắt đầu tập lẫy. Trong thời gian này trẻ có thể chuyển người sang tư thế nằm úp, sau đó bắt đầu di chuyển tiến lên phía trước và lùi về phía sau (tuy nhiên không đủ lực nên chỉ xoay quanh 1 vị trí). Khi bé đủ chắc, những chuyển động này khiến trẻ trườn được. Khi trẻ có thể lật mình và trườn, hãy để giữ trẻ khi thay tã để tránh tai nạn.

Nếu đến 6 tháng tuổi mà trẻ chưa lẫy được, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Tuy nhiên trẻ phát triển kỹ năng thể chất ở mức độ khác nhau nên có nhiều trẻ biết lẫy sớm hơn hoặc muộn hơn những trẻ khác.

4. Cầm đồ vật (từ 3 tháng tuổi trở lên)

  • Trẻ mới sinh có phản ứng cầm đồ vật bẩm sinh. Đó là lý do tại sao khi bạn chạm vào lòng bàn tay trẻ, trẻ sẽ dùng những ngón tay xinh xắn nắm lấy tay bạn. Khi trẻ được 3 tháng tuổi trẻ sẽ phát triển sự kết hợp tay – mắt; cố gắng với và cầm chặt những đồ vật mà mình muốn.
  • Bạn có thể nhận thấy rằng ở độ tuổi này trẻ làm rơi đồ trong tay và cố gắng nhặt chúng lên. Giai đoạn phát triển này giúp trẻ học về trọng lực. Với và cầm đồ vật cho thấy tính tò mò tự nhiên của trẻ.
  • Khi được 4 tháng tuổi, trẻ có thể nhặt những đồ vật lớn hơn. Trẻ sẽ không thể cầm được những đồ vật nhỏ nếu như không cải thiện sự linh hoạt của những ngón tay.
  • Ở giai đoạn này bạn có thể nhận thấy những giác quan của trẻ và giúp trẻ phát triển các giác quan bằng cách tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ thực hành kỹ năng đó.
  • Nếu trẻ có vẻ không thích thú với bất kỳ đồ chơi nào bạn đặt trước mặt trẻ khi được 8 tháng tuổi, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Những trẻ sinh non bước vào giai đoạn  này muộn hơn nhưng bác sĩ có thể đưa ra cho bác những lời khuyên về thời điểm thích hợp cho trường hợp của bạn.

5. Tồn tại độc lập (hơn 5 tháng tuổi)

Khi bước vào giai đoạn 6 tháng tuổi, trẻ bắt đầu hiểu khái niệm về việc giữ chặt và dấu đồ vật – nghĩa là trẻ hiểu được rằng những đồ vật đó sẽ vẫn ở đây, bên cạnh mình, thậm chí ngay cả khi chúng được dấu ở đâu đó. Đó là lý do vì sao trẻ ở lứa tuổi này thường thích trò chơi ú òa.

Trò chơi này kích thích trí nhớ và kỹ năng suy nghĩ trừu tượng của trẻ. Hãy bắt đầu chơi ú òa với trẻ ở độ tuổi này và bạn sẽ nhận được nhiều nụ cười của trẻ.

6. Ngồi (4 – 8 tháng tuổi)

Hầu hết những đứa trẻ bắt đầu học ngồi 1 mình trong khoảng 4 – 8 tháng tuổi. Đó là lúc mà trẻ lẫy thành thạo và giữ cho đầu mình ngẩng lên được. Đến 8 tháng tuổi, khoảng 90% trẻ có thể tự ngồi trong vài phút mà không cần ai giúp đỡ. Nếu đến 6 tháng tuổi mà trẻ không thể tự giữ đầu vững, bạn cần đến gặp bác sĩ để tham khảo.

7. Bò (6 – 10 tháng tuổi)

  • Khi trẻ biết ngồi thì chỉ một thời gian sau trẻ sẵn sàng khám phá phần còn lại của ngôi nhà. Trẻ bắt đầu tại vị trí đang ngồi, sau đó sẽ bắt đầu tập bò. Ngay khi nhận ra rằng mình có đủ sức để tự giúp bản thân mình, trẻ sẽ bò đi xung quanh. Không phải tất cả trẻ đều bò theo kiểu tay – đầu gối. 1 số trẻ thích di chuyển trên mông trong khi một số khác thích lăn.
  • Để khuyến khích trẻ tập bò, hãy cho trẻ không gian, sau đó đặt những đồ chơi hoặc đồ vật mà trẻ yêu thích ngoài tầm với của trẻ để trẻ bò đến lấy.
  • Khi trẻ bước vào giai đoạn này hãy bảo vệ an toàn cho trẻ bởi bạn không muốn trẻ đi vào những nơi không nên vào hay động vào những đồ không nên động như các thiết bị điện hay đồ vật sắc, nhọn.
  • Tất cả trẻ sẽ học được cách di chuyển trong môi trường của mình – cho dù bằng cách bò, lăn hay chạy. Nếu trẻ tỏ ra không hứng thú với việc di chuyển khi được 1 tuổi, hãy hỏi ý kiến bác sĩ về trường hợp này để có biện pháp thích hợp.

8. Đi (từ 10 tháng tuổi)

  • Khi trẻ bò vững, trẻ bắt đầu tìm kiếm những thứ để có thể vịn vào để đứng dậy như thành cũi, tay ghế… Để giúp trẻ an toàn trong giai đoạn này, bạn hãy di dời những đồ vật không chắc chắn hoặc dễ đổ khi trẻ động vào.
  • Ngay khi trẻ tự đứng thì những bước đi chập chững đầu đời sẽ xuất hiện. Một số trẻ bắt đầu lẫm chẫm đi sau 10 tháng tuổi; một số khác muộn hơn hoặc sớm hơn. Trẻ tập đi trong giai đoạn 9 – 12 tháng tuổi và có thể đi xung quanh nhà khi được 14 – 15 tháng tuổi.

Việc tập đi đòi hỏi nhiều thời gian; vì vậy nếu còn điều gì băn khoăn, hãy liên lạc ngay với bác sĩ.

6 bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi mẹ bầu nên biết

Năm đầu tiên trong cuộc sống, trẻ có thể bị một hoặc nhiều bệnh sau ghé thăm. Điều này là do trẻ chưa có một hệ thống miễn dịch tối ưu, nên dễ bị bệnh.

1/ Táo bón

  • Táo bón là một bệnh rất phổ biến ở trẻ và có thể ảnh hưởng đến khoảng 30% trẻ em trong độ tuổi dưới 1 tuổi. Ở tuổi này, thông thường bé không có một lịch trình bình thường cho việc đại tiện. Một số trẻ sơ sinh có thể đi đại tiện ngay sau mỗi bữa ăn, trong khi một số trẻ khác lại phải chờ đợi một ngày hoặc thậm chí lâu hơn mới đại tiện.
  • Lịch trình đại tiện này của trẻ phụ thuộc vào những gì trẻ ăn, cách thức hoạt động và mức độ tiêu hóa thức ăn của trẻ. Tuy nhiên cuối cùng cha mẹ sẽ có thể tìm thấy một lịch trình đại tiện riêng của trẻ sau khi theo dõi lịch ăn, ị của các bé.
  • Một dấu hiệu cho thấy trẻ bị táo bón là khi trẻ bắt đầu đi đại tiện với tần suất thấp hơn bình thường, đặc biệt là nếu trẻ đi đại tiện nhiều hơn 1-3 ngày/ lần và nó làm cho trẻ cảm thấy khó chịu. Bên cạnh đó, phân của trẻ có biểu hiện bị cứng hoặc khô cũng là một trong các triệu chứng của bệnh táo bón.

2/ Ho và cảm lạnh

  • Hầu như tất cả trẻ em đều bị bệnh này ghé thăm trong năm đầu tiên của mình. Ước tính có hàng trăm loại virus có thể gây ra cảm lạnh, và trẻ sơ sinh lại có hệ thống miễn dịch còn non nớt và đang phát triển nên càng dễ bị chúng xâm nhập gây bệnh.
  • Chưa kể đến việc, trẻ thường đưa tay hoặc các vật dụng khác vào miệng. Đây cũng là con đường thuận lợi khiến các vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể trẻ một cách nhanh chóng nhất.
  • Nói chung, trẻ sơ sinh thường bị ho và cảm lạnh trong mùa đông. Nếu như một người lớn trung bình bị cảm lạnh 2-4 lần/năm thì trẻ sơ sinh bị cảm lạnh trung bình từ 6-10 lần/năm.
  • Khi bị cảm lạnh, trẻ sẽ kèm theo triệu chứng chảy nước mũi, khó thở, hắt hơi, sốt nhẹ, hoặc ho. Nếu những triệu chứng này kéo dài hơn 10 ngày, bạn nên đưa bé đi thăm khám bác sĩ.

3/Phát ban do tã lót

  • Hầu như tất cả trẻ sơ sinh đang mặc tã hoặc đóng bỉm sẽ có nhiều nguy cơ bị hăm ở một giai đoạn nào đó. Cứ 4 em bé thì có một em bé bị hăm tã, bỉm trong tháng sơ sinh đầu tiên của mình.
  • Phát ban do tã lót hoặc bỉm có thể xảy ra nếu trẻ sử dụng tã, bỉm bẩn quá lâu hoặc một bé có một làn da nhạy cảm. Tình trạng này sẽ được biểu hiện ở trẻ với làn da đỏ và đau đớn.
  • Nguyên nhân khiến trẻ bị phát ban tã lót hoặc bỉm vì tã và bỉm không thể hấp thụ tất cả nước tiểu đọng lại của các em bé. Vì thế nước tiểu cùng vi khuẩn hoạt động trong một thời gian dài và có thể gây ra hăm tã.

4/ Tiêu chảy

Tiêu chảy ở trẻ có thể kéo dài nhiều ngày, và đôi khi đi kèm với tình trạng chuột rút đau đớn. Hầu hết các trường hợp tiêu chảy ở trẻ là do nhiễm trùng, vi khuẩn hoặc virus. Tiêu chảy do nhiễm virus có thể được đi kèm với chứng nôn mửa, đau bụng, sốt, ớn lạnh và đau đớn. Trong khi đó, tiêu chảy do nhiễm trùng vi khuẩn thường kèm theo đau bụng, ra máu, sốt và nôn. Tuy nhiên, tiêu chảy ở trẻ cũng có thể được gây ra bởi các phản ứng dị ứng với thức ăn hoặc thuốc kháng sinh.

5/ Nhiễm trùng tai

Trẻ nhỏ rất dễ bị nhiễm trùng tai. Bởi vì bất cứ điều gì cũng có thể phá vỡ chức năng của ống Eustachian như cảm lạnh hoặc dị ứng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Các triệu chứng của bệnh nhiễm trùng tai ở trẻ khá linh hoạt. Khi ấy trẻ sẽ có một thay đổi đột ngột trong hành vi  của mình và dễ khóc, cáu kỉnh. Trẻ sơ sinh thường kéo hoặc chà tai, sốt, nôn và đôi khi kèm theo tiêu chảy.

6/ Nôn trớ

Một số em bé sơ sinh thường bị nôn mửa thường xuyên nếu được ăn  một số thực phẩm mới hoặc nếu bị nhồi nhét ăn quá nhiều. Bên cạnh đó, trẻ bị nôn cũng có thể là do dị ứng, nuốt một cái gì đó độc hại, hay khóc và ho quá dai dẳng.

Nôn thường không gây hại cho sức khỏe của trẻ sơ sinh miễn là dấu hiệu này không kéo dài. Nếu trẻ bị nôn liên tục, nó có thể là một dấu hiệu của bệnh như viêm dạ dày ruột, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng tai hay một bệnh tật khác nghiêm trọng hơn.

Dinh dưỡng cho bé 1 tuổi đầy đủ và khoa học

Gồm 3 bữa ăn chính, xen kẽ là 3 – 4 cữ bú mẹ. Ngoài cháo và bột, có thể tập các thức ăn mềm như bún, phở, mì, nui. Trong mỗi chén cháo của bé cần có 4 nhóm thực phẩm sau:

  • 2-3 muỗng canh chất đạm băm nhuyễn (Thịt, cá, tôm, cua, trứng… Nếu mẹ nấu cháo nước xương, hãy cho bé ăn cả phần thịt vì chứa nhiều chất đạm).
  • 2 muỗng rau lá hoặc củ băm nhuyễn (rau muống, rau dền, bí đỏ, cà rốt..)
  • 1-2 muỗng dầu ăn
  • Thêm bột hoặc cháo cho đầy chén

Vẫn duy trì bú mẹ (ít nhất 3-4 lần trong ngày, các cữ bú nên vào lúc sáng sớm – chiều – tối và ban ngày là 3 bữa ăn). Cho bé ăn bột hoặc cháo đặc đủ 4 nhóm thức ăn 3 bữa trong ngày. Ăn thêm trái cây tươi.

Lưu ý khi chăm sóc bé 1 tuổi

Thời điểm này bé yêu đã nặng gấp 3 lần lúc sinh và đang trong thời điểm tập đứng rồi đi.

  • Bắt đầu có những hành vi như giành muỗng của mẹ, thò tay bốc thức ăn, cầm ly uống… Bạn chớ bỏ qua mà nên hỗ trợ bé để bé vui thích với bữa ăn, để thức ăn đem lại niềm hứng thú cho bé mặc dù chiến trường sau đó mẹ dọn dẹp hơi bị vất vả. Nếu được có thể cho bé ngồi chung bàn ăn với gia đình và nếm chút đỉnh thức ăn người lớn: vài muỗng canh, miếng chả đùm, nhai vài hạt cơm.
  • Ông bà dạy rằng “học ăn, học nói, học gói, học mở”, vậy học ăn là hàng đầu, rồi bé sẽ ăn uống gọn gàng và có thói quen ăn uống tốt khi bé lớn lên.
  • Sẽ có thời kỳ bé ham chơi hơn ăn hay còn gọi là biếng ăn sinh lý. Hiện tượng này có thể đi kèm với tình trạng tăng cân chậm. Tuy nhiên mẹ không cần quá lo lắng la mắng, ép bé… chẳng có tác dụng gì mà còn làm bé sợ thức ăn kéo dài. Cho dù bé ăn ít mẹ chỉ cần đảm bảo các bữa ăn của bé có đủ chất dinh dưỡng là được.
  • Thông thường thì cháo đặc lại nghèo năng lượng hơn bột đặc, tuy nhiên có thể cho bé ăn thay đổi theo khẩu vị.
  • Thỉnh thoảng cho bé cầm gặm những món cứng một chút như củ sắn, miếng táo, mận, miếng bánh mì, bánh lạt cứng… để chắc nướu răng, đỡ ngứa nướu khi mọc răng… song cần chú ý tránh để bé bị hóc.

Lúc này bạn có thể cho bé ăn xen kẽ thêm yaourt, sữa bò, trứng cả lòng trắng lẫn lòng đỏ trong chế độ dinh dưỡng cho bé 1 tuổi hàng ngày nhưng phải nấu chín kỹ. Để cung cấp phong phú hơn các chất dinh dưỡng và cũng là làm mới cho khẩu vị của bé.

Từ khóa:

  • trẻ sơ sinh ngủ không sâu giấc hay vặn mình
  • benh hay gap o tre so sinh
  • tre so sinh di ngoai nhieu lan trong ngay co sao khong
  • trẻ sơ sinh bị đi ngoài mẹ nên ăn gì

Bệnh viêm da mủ ở trẻ sơ sinh & cách điều trị

Bệnh viêm da mủ ở trẻ do sức đề kháng của trẻ thường yếu, làn da thường dễ  tổn thương và nhiễm khuẩn, có 2 nhóm bệnh viêm da mủ, một nhóm do tụ cầu khuẩn, một nhóm do liên cầu khuẩn gây nên.

  • Bé bao nhiêu tháng thì ăn được váng sữa là tốt nhất?
  • Những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè và cách trị bệnh

Bệnh viêm da mũ nguyên nhân do đâu?

Bệnh viêm da mủ là bệnh thường gặp ở trẻ em. Ở độ tuổi này, sức đề kháng của trẻ thường yếu, làn da thường dễ  tổn thương và nhiễm khuẩn, vì thế khả năng mắc bệnh viêm da mủ cao và nếu không điều trị đúng cách sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về sau.

Hãy trang bị cho mình kiến thức căn bản về bệnh viêm da có mủ ở trẻ em và cách điều trị qua bài viết bên dưới để chăm sóc con cái tốt hơn nhé!Bình thường, trên da người tồn tại rất nhiều loại vi khuẩn khác nhau, chúng sinh sống bình thường trên cơ thể mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. Tuy nhiên khi có một điều kiện thuận lợi như việc ra mồ hôi nhiều, vệ sinh kém, cơ thể ẩm ướt, trà sát trên da nhiều, sức đề khánh suy giảm khiến cho các loại vi khuẩn phát triển nhân rộng , tăng sinh độc tố gây ra bệnh ngoài da.

Bệnh thường hay gặp vào mùa hè bởi da luôn ẩm ướt ra mồ hôi nhiều dễ gây viêm nhiễm. Tùy theo từng nguyên nhân mà chúng có thể gây bệnh ở lớp nông hay lớp sâu của da.  Dựa vào vi khuẩn gây bệnh người ta phân bệnh viêm da mủ thành 2  nhóm là viêm da mủ cho liên cầu và viêm da mủ do tụ cầu.

Hướng dẫn cách điều trị bệnh viêm da mũ ở trẻ hiệu quả

Người ta thường phân chia làm 2 nhóm bệnh viêm da mủ, một nhóm do tụ cầu khuẩn, một nhóm do liên cầu khuẩn gây nên.

1/ Cách điều trị viêm da mủ do tụ cầu khuẩn

Tụ cầu khuẩn thường gây tổn thương ở nang lông. Có những thể bệnh chính sau…

Viêm nang lông nông: Viêm nông ở đầu lỗ chân lông. Ban đầu lỗ chân lông hơi sưng đỏ, đau, sau đó thành mụn mủ nhỏ, quanh chân lông có quầng viêm hẹp. Vài ngày sau, mụn mủ khô, để lại một vẩy tiết màu nâu sẫm. Sau cùng vẩy bong đi, không để lại sẹo.

Viên nang lông sâu: Quanh nang lông sưng tấy nhiều cụm, quanh lỗ chân lông có mụn mủ. Mụn mủ có thể rải rác hoặc tập trung thành đám đỏ, cứng cộm, gồ ghề, nặn ra mủ. Viêm nang lông sâu ở vùng cằm, gáy, vùng da đầu tiến triển dai dẳng, hay tái phát.

Ðiều trị: phải dùng kháng sinh toàn thân từng đợt, kết hợp với các vitamin, chế độ ăn nhiều đạm làm tăng sức đề kháng của cơ thể.

Bệnh viêm da mủ ở trẻ sơ sinh & cách điều trị

Nhọt: Cũng là một tình trạng viêm nang lông. Nếu nhọt to, số lượng nhiều có thể kèm theo sốt, hạch bạch huyết sưng đau. Nhọt ở lỗ tai rất đau, dân gian còn gọi là đằng đằng. Nhọt ở quanh miệng còn gọi là “đinh râu” rất nguy hiểm vì có thể gây tắc tĩnh mạch, nhiễm khuẩn huyết dễ gây tử vong. Hậu bối còn gọi là đinh hương sen là một cụm đinh nhọt gặp ở gáy, lưng, mông do tụ cầu vàng có độc tính rất cao, hay gây bệnh ở người già yếu, nghiện rượu, tiểu đường, ăn uống kém. Khi vỡ mủ có nhiều ngòi lỗ chỗ như tổ ong, có thể có biến chứng nhiễm khuẩn huyết và tử vong.Những bệnh thường gặp ở trẻ dưới 1 tuổi

Nhọt bày là nhiều đinh nhọt mọc liên tiếp hết đợt này đến đợt khác dai dẳng hàng tháng. Thường gặp ở người suy nhược, giảm sức đề kháng.

Ðiều trị: kháng sinh đủ mạnh, dùng càng sớm càng tốt. Có thể cho uống, tiêm hoặc truyền tĩnh mạch. Dùng các vitamin, đạm, gama globulin để nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Tại chỗ tuyệt đối không chích nặn ở giai đoạn đang viêm tấy, chưa hóa mủ. Bởi vì nặn sớm sẽ dễ bị biến chứng nhiễm khuẩn huyết, rất nguy hiểm.

Nhọt ổ gà: là một viêm nang, kèm theo viêm tuyến mồ hôi, tuyến bã ở vùng nách, tạo thành một túi mủ sâu ở bì và hạ bì. Tổn thương nổi thành cục ở vùng nách, ban đầu cứng sau mềm dần, vỡ mủ. Có thể có một hoặc nhiều nhọt ổ gà trong một hố nách. Bệnh thường tiến triển dai dẳng, hay tái phát, nhất là về mùa hè.

Ðiều trị: dùng kháng sinh toàn thân từng đợt. Ðối với tổn thương tái phát nhiều lần có thể phải phẫu thuật.

2/ Trị viêm da mủ do liên cầu khuẩn

Chốc lây: do tụ cầu khuẩn và liên cầu khuẩn phối hợp gây bệnh. Trẻ em hay bị hơn người lớn. Vị trí hay gặp là đầu, mặt, cổ, chân tay. Bệnh rất dễ lây từ trẻ này sang trẻ khác, nên có thể thành dịch ở nhà trẻ, trường học. ở trẻ em, chốc đầu tạo thành từng đám vẩy vàng sâu dính bết tóc, dưới lớp vảy, da trợt đỏ, rớm dịch. Hạch ở vùng lân cận thường sưng đau. Bệnh có thể gây biến chứng viêm cầu thận cấp biểu hiện bằng phù, tiểu ít, xét nghiệm có protein niệu.

Ðiều trị: phải dùng kháng sinh toàn thân sớm tại chỗ. Dùng các thuốc sát trùng bôi, đắp gạc cho bong hết vẩy, sau đó bôi xanh methylen 1% hoặc dùng dung dịch milian. Khi vẩy tróc bong hết có thể bôi các loại mỡ kháng sinh

Chốc loét: là một loại chốc, nhưng tổn thương lan sâu đến trung bì. Thường gặp chốc loét ở bệnh nhân suy dinh dưỡng có bệnh tiểu đường hoặc nghiện rượu. Vị trí: hay gặp ở cẳng chân, cổ chân, nhất là ở chân có giãn tĩnh mạch. Bệnh bắt đầu như chốc lây bằng một phỏng nước hoặc phỏng mủ. Da xung quanh vết loét tím tái, tiến triển dai dẳng, lâu liền sẹo.

Ðiều trị: phải dùng kháng sinh nhiều đợt, kết hợp với vitamin, đạm, chiếu tia cực tím.

Hăm kẽ: còn gọi là viêm bì thượng bì vi khuẩn. Thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ em mập mạp hoặc ở người lớn béo mập, ra mồ hôi nhiều. Hăm kẽ thường thấy ở nếp cổ, kẽ bẹn, kẽ mông, kẽ sau tai, rốn. Tổn thương là các đám đỏ, trợt, rớm dịch, phía ngoài thường có viền róc da mỏng, đau rát.

Ðiều trị: rửa sạch tổn thương bằng nước thuốc tím 1/4.000. Chấm dung dịch yarish.

Chốc mép: thường gặp ở trẻ em. Tổn thương đơn độc hoặc kèm theo các tổn thương khác do liên cầu khuẩn. Hai kẽ mép bị nứt trợt, rớm dịch, đóng vẩy vàng dễ chảy máu, đau rát làm cho trẻ khó ăn, khó uống. Có thể lây do uống chung chén, dùng chung khăn mặt. Thường kèm theo sưng đau hạch dưới hàm.

Ðiều trị: chấm dung dịch yarish, thuốc màu, thuốc mỡ kháng sinh.

Bí quyết phòng ngừa bệnh viêm da mủ ở trẻ sơ sinh

Để phòng chống viêm da cho trẻ, các bà mẹ cần chú ý thay tã lót thường xuyên, lau khô vùng bẹn và mông bằng nước ấm sau khi trẻ đại, tiểu tiện. Hàng ngày, cần vệ sinh sạch sẽ cơ thể cho trẻ bằng nước sạch hoặc xà bông diệt khuẩn.

Vậy, làm thế nào để xử lý khi trẻ bị viêm da? Bạn có thể thực hiện theo các cách sau đây:

– Vệ sinh da bé sạch sẽ, giữ da thoáng mát

– Tắm rửa bằng Lactacyd BB, thuốc tím pha loãng màu hồng lợt giúp hạn chế nhiễm trùng da

– Bôi thuốc chống nhiễm trùng như Eosine, Milian, Fucidin, Bactroban

– Dùng kháng sinh toàn thân theo chỉ dẫn của bác sĩ khi cần thiết

Nếu sau một thời gian bé dùng thuốc kháng sinh và thuốc bôi mà không đỡ, bạn nên đưa bé đi khám lại.

Theo Nguoi lao dong, eva

tu khoa

  • bệnh viêm da ở trẻ sơ sinh
  • viem da o tre so sinh co nguy hiem
  • nhiễm trùng da ở trẻ sơ sinh
  • hinh anh benh nhiem trung da
  • nổi mẩn đỏ ở lòng bàn tay và chân

Bệnh viêm phổi ở trẻ em và cách điều trị, phòng bệnh

Bệnh viêm phổi ở trẻ em dễ nhiễm và tái phát vì khả năng miễn dịch còn rất thấp, hệ hô hấp còn non yếu, hướng dẫn cách chăm sóc trẻ bị viêm phổi và cách phòng tránh hiệu quả nhất

  • Bé bao nhiêu tháng thì ăn được váng sữa là tốt nhất?
  • Những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè và cách trị bệnh

Bệnh viêm phổi là bệnh gì?

Viêm phổi luôn là “cơn ác mộng” với tất cả các bà mẹ đang chăm trẻ sơ sinh. Trẻ nhỏ từ 0-3 tháng tuổi khả năng miễn dịch còn rất thấp, hệ hô hấp còn non yếu nên nếu đã bị viêm phổi thì sau này sẽ rất dễ tái phát.

Bé sơ sinh thở bụng, chủ yếu qua đường mũi và thở không đều, thường có những cơn ngưng thở sinh lý dưới 10 giây là do phổi chưa giãn nở tốt, các phế nang chưa trưởng thành, cấu tạo hệ hô hấp chưa hoàn chỉnh. Vì vậy, ông cha ta có tục lệ ăn đầy tháng khi trẻ đầy một tháng tuổi, tức là mừng cho bộ máy hô hấp của bé sơ sinh có khả năng thích nghi được với môi trường sống bên ngoài.

Loại trừ những nguyên nhân như khi người mẹ mang thai hoặc trong quá trình sinh để bị nhiễm khuẩn dẫn đến trẻ sinh ra mắc virus đường hô hấp, cũng còn nhiều nguyên nhân khác đến từ những bất cẩn trong việc chăm sóc trẻ sơ sinh khiến bé bị viêm phổi:

Bệnh viêm phổi ở trẻ em và cách điều trị, phòng bệnh

  • Nhiều bà nhiều mẹ thường quan niệm trẻ sơ sinh dễ bị nhiễm lạnh nên cần ủ ấm trong mùa đông. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết, nếu ủ ấm quá, trẻ ra mồ hôi lại dễ bị nhiễm lạnh. Trẻ sơ sinh thoát nhiệt qua da, nếu ủ bé kỹ quá, mồ hôi thoát ra không được bay đi mà sẽ bị thấm ngược vào phổi, gây bệnh về hô hấp. Trời nóng, nhiều cha mẹ bật điều hoà hoặc quạt liên tục, thậm chí vô tư để luồng gió chiếu thẳng vào người con cũng là nguyên nhân khiến bé bị nhiễm lạnh, dễ dẫn đến viêm phổi.
  • Thời gian sáng sớm và tối muộn là hai thời điểm lạnh nhất trong ngày, cha mẹ nên hạn chế đưa trẻ sơ sinh ra ngoài trời. Nếu cho bé ra mà không có đầy đủ quần áo, mũ con cũng sẽ dễ nhiễm bệnh.
  • Trong đêm, nếu được ủ ấm, trẻ có thể cảm thấy nóng bức nên đạp tung chăn ra và sau đó lại dễ nhiễm lạnh. Điều này rất nguy hiểm. Nếu cha mẹ không kịp thời đắp lại chăn cho con nhiều lần trong đêm, em bé dễ dàng viêm đường hô hấp, thậm chí viêm phổi

Triệu chứng của viêm phổi ở trẻ em

Theo Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ, dưới đây là những triệu chứng của bệnh viêm phổi thường gặp ở trẻ sơ sinh, cần được chăm sóc y tế: trẻ sơ sinh có ho hoặc thở như ngáy, sốt, khó thở, nôn trớ, tiêu chảy và quấy khóc. Tuy nhiên, với kinh nghiệm thực tiễn của các thầy thuốc nhi khoa Việt Nam, nhận biết một trẻ sơ sinh khi bị viêm phổi có biểu hiện ban đầu là trẻ dễ quấy khóc, đây là kết quả của sự nhiễm trùng, khiến trẻ cảm thấy khó chịu, dẫn đến trẻ quấy khóc hoặc khó ngủ.

Ngoài ra, trẻ còn một số biểu hiện khác như

  • Thở nhanh: Nhịp thở ≥ 60 lần/phút đối với trẻ < 2 tháng tuổi và
  • Nhịp thở ≥ 50lần/phút đối với trẻ 2 tháng – 12 tháng tuổi và
  • Nhịp thở ≥ 40lần/phút đối với trẻ 1-5 tuổi .
  • Sốt cao
  • Khò khè
  • Chán ăn.

Biến chứng của viêm phổi: Nếu trẻ bị viêm phổi không được điều trị kịp thời, hoặc chăm sóc không đúng cách, có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm chẳng như nhiễm trùng huyết, viêm màng não, suy tim, bại não, vv, gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Vì vậy, cha mẹ đừng chủ quan với những biểu hiện của viêm phổi khi thấy con ho, khò khè hay thở nhanh.

Điều trị viêm phổi ở trẻ em như thế nào?

Nguyên tắc điều trị viêm phổi ở trẻ là chống nhiễm khuẩn, chống suy hô hấp, chăm sóc tốt:

  • Ở tuyến cơ sở: Nhỏ mũi bằng dung dịch sát khuẩn nhẹ (natricloxit 9%o), súc miệng hằng ngày. Có thể dùng một số loại kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng như: penixilin, amoxilin, erythromycin… (tốt nhất nên dùng đường uống, dạng siro). Khi tình trạng bệnh không cải thiện thì nên chuyển lên tuyến trên.
  • Khi trẻ viêm phổi nặng: Nên nằm điều trị nội trú tại bệnh viện, theo dõi sát diễn biến của bệnh và có biện pháp xử trí kịp thời. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh thì dùng kháng sinh dựa theo kháng sinh đồ. Nếu không có kháng sinh đồ thì dựa vào lứa tuổi, diễn biến của bệnh mà lựa chọn các loại kháng sinh phổ rộng như: gentamycin, amoxilin, cefotaxim, cefuroxim…
  • Điều trị hỗ trợ: Hạ nhiệt bằng paracetamon, chườm mát…, làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm dãi, nằm đầu cao, nới rộng quần áo. Cho thở oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở. Nếu tím tái nặng, ngừng thở thì có thể đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ… Khi trẻ sốt cao kéo dài, có biểu hiện mất nước, cần truyền dịch.
  • Chăm sóc: Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, đủ chất, số lượng vừa phải, tránh trào ngược. Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và cần phải theo dõi sát tình trạng khó thở, tím tái.

Để phòng viêm phổi ở trẻ, các bậc cha mẹ cần chú ý:

  • Nơi ở phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông không khí tốt, ấm áp về mùa đông. Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, cho súc miệng hàng ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch.
  • Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… Nên đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nơi cư trú để được tư vấn và có hướng điều trị thích hợp, tránh lây lan cho người khác, không nên tự dùng thuốc cho trẻ.
  • Đảm bảo cho trẻ có một sức khỏe tốt. Khi mang thai, bà mẹ phải khám thai đầy đủ, đảm bảo thai nhi phát triển tốt, có chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng như protit, lipit, các loại vitamin, muối khoáng… Nên cho trẻ bú mẹ từ ngay sau khi sinh đến 2 tuổi để cơ thể trẻ phát triển toàn diện và khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn.
  • Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của cán bộ y tế cơ sở theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Nếu tiêm một số loại vacxin phòng viêm đường hô hấp ngoài chương trình, cần có sự hướng dẫn và tư vấn của cán bộ y tế nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.
  • Lập sổ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ và lưu giữ sổ sau mỗi lần khám nhằm giúp nhân viên y tế nắm được diễn biến sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có hướng điều trị, phòng bệnh tốt.

Con bạn đã được khám và chẩn đán bệnh, bạn cần kiên trì điều trị cho cháu theo sự chỉ dẫn của các bác sĩ. Tuyệt đối tuân thủ theo đơn thuốc đã được bác sĩ kê, sau khi uống hết thuốc, bạn cần đưa bé đi khám lại để các bác sĩ so sánh kết quả trước và sau khi điều trị để có quyết định điều trị tiếp.

Những điều chưa biết về bệnh viêm phổi trẻ em

Bệnh viêm phổi là căn bệnh nguy hiểm đối với trẻ em: Viêm phổi là căn bệnh nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời có thể là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ dưới 5 tuổi. Tỉ lệ trẻ tử vong vì viêm phổi có thể có thể lớn gấp nhiều lần so với các bệnh khác. Theo thống kê, trên thế giới, mỗi năm có khoảng 1 triệu trẻ em chết vì viêm phổi, chiếm 15% tổng số ca tử vong của trẻ em trong độ tuổi này. Trong năm 2013, tổng số có 935.000 trường hợp trẻ không may qua đời vì viêm phổi, tính ra có hơn 2.500 trẻ qua đời mỗi ngày.

Viêm phổi thường lây lan rất nhanh: Bệnh viêm phổi do vi khuẩn và virus thường lây qua chất dịch phát tán từ mũi hoặc miệng người bệnh. Bệnh có thể lây khi người bệnh ho hoặc hắt hơi vào người khác, hay qua dùng chung ly uống nước và dụng cụ đựng thức ăn, sờ vào khăn giấy hoặc khăn tay mà người bệnh đã sử dụng. Do đó, khi trong gia đình có người mắc bệnh, người lớn nên chú ý phòng tránh cho trẻ và không nên đưa trẻ đến những chỗ đông người.

Tỷ lệ tử vong của bệnh viêm phổi có liên quan đến suy dinh dưỡng: Trẻ em bị suy dinh dưỡng, đặc biệt là những trẻ bị suy dinh dưỡng cấp tính nặng, có nguy cơ tử vong cao hơn khi bị viêm phổi. Điều này là do suy dinh dưỡng làm suy yếu hệ thống miễn dịch, ngăn không cho cơ thể chiến đấu lại căn bệnh này. Các yếu tố có liên quan đến dinh dưỡng là nguyên nhân dẫn đến 45% các ca tử vong ở trẻ em dưới năm tuổi. Do đó, các mẹ cẩn phải đảm bảo cho trẻ có một chế độ dinh dưỡng đầy đủ giúp hệ miễn dịch và sức đề kháng của trẻ được khỏe mạnh để chống trọi tốt với các virus gây bệnh.

Bệnh viêm phổi thường bị chuẩn đoán nhầm: Một tỷ lệ lớn các trẻ em tử vong do viêm phổi bởi vì chúng không được điều trị đúng cách sau khi bị chẩn đoán nhầm. Các triệu chứng của viêm phổi bao gồm sốt, khó thở, tim đập nhanh và ho dữ dội có thể bị nhầm lẫn với các bệnh trẻ nhỏ khác như sốt rét. Khi chẩn đoán viêm phổi, nhân viên y tế cộng đồng được đào tạo để tính toán tỷ lệ hô hấp của trẻ em, và sau đó xác định xem trẻ có đang thở nhanh hơn bình thường hay không.

Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng gần một nửa các y tá, đặc biệt là những người có kỹ năng làm toán thấp, không thể áp dụng chính xác kỹ thuật để tính toán. Chẩn đoán chính xác là rất quan trọng trong việc đảm bảo rằng tất cả trẻ em được điều trị thích hợp, cho dù đó là thuốc kháng sinh cho bệnh viêm phổi hoặc điều trị các bệnh khác.

Bệnh viêm phổi có thể được điều trị dễ dàng: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyên rằng phân tán amoxicillin trong năm ngày là phương pháp điều trị kháng sinh thích hợp cho trẻ em dưới năm tuổi được chẩn đoán bị viêm phổi. Trẻ em có dấu hiệu nguy hiểm nên được chuyển đến một cơ sở y tế cao hơn cho điều trị bằng tiêm kháng sinh và thở oxy. Tuy nhiên, điều trị kháng sinh lại chỉ được áp dụng với chưa đầy một nửa số trường hợp viêm phổi.

theo vietnamnet

tu khoa

  • benh viem phoi o tre em va cach dieu tri
  • chữa viêm phế quản mãn tính ở người lớn
  • chữa viêm phế quản mãn tính bằng thuốc nam
  • cách chữa bệnh viêm phổi cấp tính